BoA

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
BoA
BoA in March 2013 (from acrofan).jpg
BoA tại at Tòa nhà F&F, Yeoksam-dong, Gangnam-gu, Seoul vào tháng 3 năm 2013
Thông tin nghệ sĩ
Tên khai sinh 권보아
Kwon Bo Ah
Sinh 5 tháng 11, 1986 (27 tuổi)
Kwon Suong-Dong (F)Sung(成) Young-Ja (M)
Nguyên quán Guri, Gyeonggi-do, Hàn Quốc
Nghề nghiệp Ca sĩ, Vũ công, Nhạc sĩ, Nhà sản xuất, Diễn viên lồng tiếng
Thể loại Pop, dance-pop, electropop, R&B
Năm 2000–nay
Hãng đĩa SM Entertainment (Hàn Quốc)
Avex Trax (Nhật Bản)
SM Entertainment USA
United Asia Management
Hợp tác SM Town, Anyband
Website Official Site
Official Japanese Site
Official US Site
Nhạc cụ nổi bật
Ghi-ta
BoA
Hangul 권보아
Hanja (Hán tự) 權寶雅[cần dẫn nguồn]
Hán-Việt Quyền Bảo Nhi
Romaja quốc ngữ Gwon Bo ah
McCune-Reischauer Kwŏn Bo ah

Kwon Bo A (tiếng Triều Tiên: 권보아, tiếng Trung: 權寶兒/权宝儿, tiếng Nhật: クォン·ボア, sinh ngày 5 tháng 11 năm 1986 [1]), được biết đến với nghệ danh BoA, viết tắt của cụm từ Beat of Angel,[2] là nữ ca sĩ, vũ công, nhạc sĩ Hàn Quốc, hoạt động tại thị trường âm nhạc Hàn Quốc, Nhật Bản và Mỹ.[3][4][5] BoA được coi là "Nữ hoàng nhạc Pop" của Hàn Quốc.[5][6][7]

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

BoA sinh ra và lớn lên tại Guri, Gyeonggi, Hàn Quốc. Cô được bộ phận tìm kiếm tài năng của SM Town phát hiện khi đi cùng với anh trai tham gia một cuộc thi tìm kiếm tài năng. Năm 2000, sau hai năm đào tạo tại công ty SM, BoA cho ra mắt album đầu tay: ID; Peace B. Hai năm sau, BoA phát hành đĩa đơn tiếng Nhật đầu tiên: Listen to My Heart, trở thành ngôi sao nhạc pop đầu tiên người Hàn Quốc thành công tại Nhật bản, cùng với đó là việc gỡ bỏ hàng rào ngăn cách trong việc xuất khẩu văn hóa giữa các quốc gia kể từ sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai.[8]

Vào ngày 14 tháng 10 năm 2008, BoA lần đầu tiên ra mắt tại thị trường Mỹ với đĩa đơn "Eat You Up" và cho ra album tiếng Anh đầu tiên của cô có tên BoA vào ngày 17 tháng 3 năm 2009.

Khả năng đa dạng của BoA (cô thành thạo tiếng Nhật và tiếng Anh cũng với ngôn ngữ mẹ đẻ là tiếng Hàn, cô cũng thể hiện các ca khúc tiếng Trung)[9] đã giúp có được những thành công vượt bậc tại Châu Á. Cô là nghệ sĩ nước ngoài duy nhất có 2 album bán đước hơn 1 triệu bản tại Nhật và là một trong ba nghê sĩ có 6 album phòng thu liên tiếp đứng vị trí thứ nhất trên bảng xếp hạng Oricon kể từ khi ra mắt, gồm có Ayumi HamasakiKoda Kumi. BoA đã bán được hơn 10 triệu bản tính cả album, đĩa đơn và DVD trong suốt sự nghiệp của cô.[10]

Hình ảnh và hoạt động nghệ thuật[sửa | sửa mã nguồn]

Trên bìa tạp chí KoreAm, tháng 5 năm 2009

Hip hop là dòng nhạc có ảnh hưởng nhiều nhất đối với BoA, dù cô cũng thích nghe R&B. Thần tượng yêu thích của cô là Michael Jackson, Justin Timberlake, và Ne-Yo;[11] vì vậy nhạc của cô mang hơi hướng của cả dance pop và R&B. Ngoài ra vì còn thể hiện các ca khúc ballad nên cô hay bị so sánh với các ca sĩ Nhật Bản như Ayumi HamasakiHikaru Utada. Album đầu tiên của BoA là ID; Peace B có cả các bài urban pop, ballad dài, và "những giai điệu nhạc dance vui vẻ". khi sự nghiệp đi lên, cô thử nghiệm với những phong cách khách: Valenti là hầu hết các bản bản ballad; Love and Honesty là một trải nghiệm khó hơn với R&B và rock.[12]

Công việc soạn nhạc và viết lời cho ca khúc đều được thực hiện bởi các nhân viên nên BoA luôn bị nhận xét là "sản phẩm của công nghệ chế tạo ngôi sao".[note 1] Đáp lại những lời chỉ trích đó, BoA nói "nếu một người bị giới hạn mình về điều gì, sau đó mọi thứ đáng lẽ tốt có thể dễ dàng sụp đổ" và cô không vui khi có những ý kiến cho rằng cô ấy là sản phẩm của công nghệ chế tạo ngôi sao. Có lẽ, điều đó đúng. Vì SM Entertainment đã tạo ra một môi trường và mọi điều kiện tốt nhất đi kèm nên cô ấy có thể thành công như bây giờ."[13] Hình tượng ban đầu của cô được chọn là phong cách dễ thương và tươi trẻ, BoA dần chuyển sang hình ảnh trưởng thành hơn kể từ album My Name. Trong một cuộc phỏng vấn với Talk Asia, Anjali Rao có nói, My Name đánh dấu bước khởi đầu về sự đi xuống cho sự nổi tiếng của cô và có phải khán giả luôn muốn thấy hình ảnh "cô ca sĩ BoA bé bỏng"; BoA nói, "Vậy thì tôi sẽ phải xin lỗi những người vẫn muốn một cô bé BoA, trong thực tế, tôi có thế làm gì được đây? Tôi vẫn đang tiếp tục lớn lên! Tôi không có cách nào ngăn được điều đó."[13]

BoA từng hợp tác với rất nhiều nghệ sĩ tên tuổi. Cùng với các nghệ sĩ Nhật Bản, cô trình diễn với nhóm hip hop M-Flo (cho đĩa đơn "the Love Bug"), ca sĩ nhạc pop Kumi Koda, và nhóm DJ Mondo Grosso. Cô cũng biểu diễn với những nghệ sĩ Châu Âu: ca khúc "Flying Without Wings" từ album Next World của cô là sự hợp tác với nhóm nhạc Ai-len Westlife hát lại ca khúc gốc Flying Without Wings; đĩa đơn the Bratz "Show Me What You Got" biểu diễn với Howie D của nhóm nhạc Mỹ là Backstreet Boys.[12] Cô còn có dịp hợp tác với Akon, thể hiển ca khúc "Beautiful", nằm trong album thứ ba phát hành tại Nhật của anh, Freedom.[14] Những nghệ sĩ khác từng hợp tác gồm có Soul'd Out, Dabo, Verbal (of M-Flo), Rah-D, Seamo, TVXQ, Yutaka Furakawa (thành viên ban nhạc Doping Panda), và Crystal Kay (cho đĩa đơn "After Love: First Boyfriend/Girlfriend").[15] Ban nhạc rock Weezer của Mỹ đã thể hiện lại ca khúc "Meri Kuri" nằm trong albumon Weezer (The Red Album) phát hành tại Nhật của họ.[16]

BoA là nghệ sĩ hàng đầu tại Hàn Quốc và Nhật Bản; sự nổi tiếng của cô về sau là nhờ khả năng ngoại ngữ của chính bản thân (cô thu âm các ca khúc ở ca 3 thứ tiếng Anh, Nhật, Hàn) và sự yêu thích cuả người Nhật đối với làn sóng Hàn kể từ đầu những năm 2000 khi hai nước bắt đầu có sự trao đổi quảng bá văn hóa lẫn nhau.[17][18][19] Danh tiếng củaBoA lan rộng tại khu vực Đông Á và có nhiều khán giả hâm mộ tại Trung Quốc, Hồng Kông, Đài Loan, Malaysia, và Singapore. Cô cũng bày tỏ dự định chinh phục thị trường trên thế giới, vào tháng 6 2006, music video của ca khúc "My Name" trở thành music video đầu tiên được phát trên kênh MTV K, thuộc kênh âm nhạc MTV mục đích hướng tới các khán giả người Hàn Quốc tại Mỹ.[20]

Nhờ danh tiếng ngày càng lớn, BoA được mời làm đại diện quảng bá cho nhiều nhãn hàng.[13] Trong số các thương hiệu được mời gồm có Tập đoàn Olympus, Lotte, thương hiệu Nike,[21] L'Oréal, công ty mỹ phẩm Kosé của Nhật, Skechers, Audio-Technica,[22][23][24] GM Daewoo và L'Occitane.

Bảy trong số các khúc của cô được sử dụng làm nhạc nền cho quảng cáo. "Every Heart: Minna no Kimochi" được chọn làm ca khúc chủ đề ở cuối phim hoạt hình, anime InuYasha;[25] "Beside You: Boku o Yobu Koe" là ca khúc chủ đề mở đầu cho phim anime Monkey Typhoon;[26] "Key of Heart" là ca khúc chủ đề cho việc phát hành của Over the Hedge tại Nhật;[27] "Your Color" was the theme song of the video game Ninety-Nine Nights;[28][29] "Mamoritai: White Wishes";à ca khúc chủ đề của trò chơi điện tử Tales of Graces.[30][31][32] và "Tail of Hope" là nhạc phim cho phim truyền hình Nhật Bản "Hakui no Namida". Năm 2014, ca khúc "Masayume Chasing".của cô được chọn làm bài hát mở đầu cho mùa thứ 5 của anime Fairy Tail.

Sự nổi tiếng của BoA giúp cô trở thành "Đại sứ văn hóa"; cô là đại diện của Hàn Quốc trong các sự kiện ảnh hưởng của âm nhạc châu Á và xuất hiện trong một cuốn sách giáo khoa xuất bản bằng tiếng Anh của Đại học Báo chí Oxford University Press.[33][34]

Danh sách đĩa hát[sửa | sửa mã nguồn]

Album tiếng Hàn[sửa | sửa mã nguồn]

Album phòng thu
  • 2000: ID; Peace B
  • 2002: No. 1
  • 2003: Atlantis Princess
  • 2004: My Name
  • 2005: Girls on Top
  • 2010: Hurricane Venus
  • 2012: Only One
Đĩa mở rộng
  • 2001: Jumping into the World
  • 2002: Miracle
  • 2003: Shine We Are!

Album tiếng Nhật[sửa | sửa mã nguồn]

Studio albums
  • 2002: Listen to My Heart
  • 2003: Valenti
  • 2004: Love & Honesty
  • 2006: Outgrow
  • 2007: Made in Twenty (20)
  • 2008: The Face
  • 2010: Identity
Album tổng hợp
  • 2004: K-pop Selection
  • 2005: Best of Soul
  • 2009: Best & USA
  • 2011: BoA Summer Selection 2011 (Album kỹ thuật số tổng hợp)
  • 2013: Winter Ballad Collection 2013 (Album kỹ thuật số tổng hợp)
Album phối lại
  • 2002: Peace B. Remixes
  • 2003: Next World

Album tiếng Anh[sửa | sửa mã nguồn]

Album phòng thu
  • 2009: BoA

Lưu diễn[sửa | sửa mã nguồn]

Nổi bật

Nhật Bản

  • 2003: FIRST LIVE TOUR 2003 -VALENTI-
  • 2004: LIVE TOUR 2004 -LOVE&HONESTY-
  • 2005: ARENA TOUR 2005 -BEST OF SOUL-
  • 2006: THE LIVE "Ura BoA... Kikase Kei (The Other Side of BoA... Listen)"
  • 2007: ARENA TOUR 2007 -MADE IN TWENTY(20)-a
  • 2007: THE LIVE 2007 "X'mas"
  • 2008: LIVE TOUR 2008 -THE FACE-
  • 2009: THE LIVE 2009 "X'mas"
  • 2010: LIVE TOUR 2010 -IDENTITY-
  • 2010: THE LIVE 2010 "X'mas"
  • 2011: THE LIVE 2011 "X'mas" -THE 10TH ANNIVERSARY EDITION-

Tham gia trong những chuyến lưu diễn của SM Town

  • 2002: SM China
  • 2003: SMTOWN Smile Concert 2003
  • 2007: 2007 SMTOWN Summer Concert
  • 2008: SMTown Live '08
  • 2010–11: SMTown Live '10 World Tour
  • 2012–nay: SMTown Live World Tour III

Hàn Quốc

  • 2013: Special Live 2013: Here I am

"Special Live 2013: Here I am" là đêm diễn riêng đầu tiên của tại South Korea được tổ chức vào các ngày 26 và 27 tháng 1 tại It was held on January 26 and 27 tại sân Olympic ở công viên Olympic của Seoul[35] Ban đầu dự định chỉ tổ chức biểu diễn trong 1 ngày nhưng do lượng vé bán ra hết nhanh trong ngày đầu tiên nên SM Entertainment quyết định tổ chức thêm lên 1 ngày. Ngày 11 tháng 4 năm 2013, 3 đã có thêm nhiều buổi trình diễn trong các chuyến lưu diễn ở Đài Loan và Hàn Quốc.

Danh sách phim[sửa | sửa mã nguồn]

Chương trình truyền hình[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Kênh Tựa đề Vai Ghi chú
2010 SBS Athena: Goddess of War Chính mình Khách mời, tập 7–8
2011–2012 K-pop Star mùa thứ 1 Chính mình Đại diện của SM Entetainment
2012 Running Man Chính mình Ngôi sao khách mời, tập 88–89
KBS Win Win Chính mình Ngôi sao khách mời, tập 116–117
Road For Hope Chính mình Ngôi sao khách mời
2012–2013 SBS K-pop Star mùa thứ 2 Chính mình Đại diện của SM Entertainment
2013 Thank You Chính mình Ngôi sao khách mời, tập 21–22
KBS Waiting for Love Joo Yeon-ae Phim truyền hình đặc biệt (vai chính)
MBC Infinite Challenge Chính mình Ghép đôi với Gil Seong-joon trong Song Festival 2013

Phim điện ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tựa đề Vai Ghi chú
2006 Over the Hedge Heather the Possum Lồng tiếng trong phiên bản của Nhật và Hàn Quốc
2012 I AM. Chính mình Phim tài liệu
2014 Make Your Move 3D Aya Phim Hollywood
Big Match Soo Kyung Phim điện ảnh Hàn Quốc
Venus Talk Hàng xóm của nhân vật chính Mi-Yeon Vai khách mời, phim điện ảnh Hàn Quốc

Ghi chú cuối[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ BoA đã bắt đầu viết lời và soạn nhạc cho 49 ca khúc kể từ khi bắt đầu sự nghiệp và tư mình thực hiện albulm phòng thu tiếng Nhật IDENTITY

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ "BoA's profile". SM Entertainment. truy cập ngày 9 tháng 10, 2008.
  2. ^ (tiếng Thụy Điển) “Are you a world artist and need a new monsterhit? Do as Kylie and Madonna: hire genius, the producer duo Christian "Bloodshy" Karlsson and Pontus "Avant" Winnberg. In his first major interview ever reveal all about success”. http://www.cafe.se/. Truy cập ngày 8 tháng 2 năm 2009. 
  3. ^ “BoA's mother speaks out on why BoA chose SM Entertainment over 15 other companies”. Koreaboo.com. 7 tháng 11 năm 2010. Truy cập ngày 18 tháng 4 năm 2011. 
  4. ^ “BoA - "GAME"”. MTV Korea. 13 tháng 9 năm 2010. Truy cập ngày 18 tháng 4 năm 2011. 
  5. ^ a ă The ‘Queen of K-Pop’ BoA, to make her long-awaited comeback
  6. ^ Honorific nicknames in popular music Honorific nicknames in popular music
  7. ^ Way Back Wednesday: BoA, the Queen of K-pop
  8. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên JPTIMES
  9. ^ Lee, Dan (30 tháng 5 năm 2003). “BoA” (PDF). Japan Today (G Plus Media). Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 2 năm 2005. Truy cập ngày 20 tháng 11 năm 2008. 
  10. ^ [1]
  11. ^ (tiếng Nhật) “BoA's profile”. Avex Marketing Inc. Truy cập ngày 30 tháng 8 năm 2008. 
  12. ^ a ă Hickey, David. “BoA Biography”. MTV. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 2 năm 2008. Truy cập ngày 13 tháng 8 năm 2008. 
  13. ^ a ă â “BoA TalkAsia Transcript”. CNN. 15 tháng 12 năm 2006. Truy cập ngày 10 tháng 1 năm 2009. 
  14. ^ “Akon – Freedom+2”. Universal International, Japan. 27 tháng 7 năm 2009. Truy cập ngày 27 tháng 7 năm 2009. 
  15. ^ (tiếng Nhật) “クリケイ×BoA超豪華ユニット!!”. Yomiuri Shimbun (Sports Hochi). 2 tháng 5 năm 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 5 năm 2009. Truy cập ngày 14 tháng 11 năm 2009. 
  16. ^ (tiếng Nhật) “Weezer Covers BoA's "Meri Kuri" in Japanese”. Barks.jp. ITMedia. 3 tháng 6 năm 2008. Truy cập ngày 13 tháng 8 năm 2008. 
  17. ^ Setsuko Kamiya (7 tháng 4 năm 2004). “Korean love story heats up Japan”. The Japan Times. The Japan Times Ltd. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 7 năm 2012. Truy cập ngày 13 tháng 8 năm 2008. 
  18. ^ Hiroshi Matsubara (19 tháng 4 năm 2002). “Language, music point way to stronger relations”. The Japan Times. The Japan Times Ltd. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 7 năm 2012. Truy cập ngày 13 tháng 8 năm 2008. 
  19. ^ Mauymi Saito (11 tháng 4 năm 2001). “K-pop, ya don't stop”. The Japan Times. The Japan Times Ltd. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 7 năm 2012. Truy cập ngày 13 tháng 8 năm 2008. 
  20. ^ “The first video on MTV K: BoA "My Name"”. MTV K. 26 tháng 6 năm 2006. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 7 năm 2006. Truy cập ngày 29 tháng 9 năm 2008. 
  21. ^ “BoA Sole Non-Sports Star in Nike Commercial”. Digital Chosun Ilbo. Chosun Ilbo. 31 tháng 7 năm 2006. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 4 năm 2008. Truy cập ngày 13 tháng 8 năm 2008. 
  22. ^ “BoA TVCM for Audio Technica”. 21 tháng 11 năm 2008. Truy cập ngày 18 tháng 10 năm 2008. 
  23. ^ “Mezamashi TV Audio-Technica CM press release (BoA)”. 21 tháng 11 năm 2008. Truy cập ngày 18 tháng 10 năm 2010. 
  24. ^ “BoA in the USA”. Audio-Technica. 9 tháng 7 năm 2009. Truy cập ngày 18 tháng 10 năm 2010. 
  25. ^ (tiếng Nhật) “Every Heart”. Goo. Truy cập ngày 30 tháng 12 năm 2008. 
  26. ^ (tiếng Nhật) “Jewel Song / Beside You: Boku o Yobu Koe”. Goo. Truy cập ngày 13 tháng 4 năm 2009. 
  27. ^ (tiếng Nhật) “Key of Heart”. Oricon. Truy cập ngày 20 tháng 11 năm 2008. 
  28. ^ (tiếng Nhật) “The main focus of singles to be released on April 5 is BoA's newsy song for a television commercial!”. Oricon. 2 tháng 4 năm 2006. Truy cập ngày 30 tháng 9 năm 2008. 
  29. ^ Gantayat, Anoop (9 tháng 2 năm 2006). “Ninety-Nine Nights Gets BoA”. IGN. News Corporation. Truy cập ngày 14 tháng 8 năm 2008. 
  30. ^ (tiếng Nhật) “Mamoritai: White Wishes (CD+DVD)”. Goo. Truy cập ngày 3 tháng 7 năm 2011. 
  31. ^ (tiếng Nhật) “Mamoritai: White Wishes (Tales of Graces Limited Edition)”. Goo. Truy cập ngày 3 tháng 7 năm 2011. 
  32. ^ “BoA sings for Namco’s Tales of Graces [updated with audio preview]”. allkpop. 27 tháng 9 năm 2009. Truy cập ngày 3 tháng 7 năm 2011. 
  33. ^ “Asian Stars to Shine in Seoul.”. Yonhap. 26 tháng 11 năm 2004. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 7 năm 2012. Truy cập ngày 6 tháng 8 năm 2008.  (Registration needed to view article)
  34. ^ “BoA Makes It Into Textbooks”. Digital Chosun Ilbo. Chosun Ilbo. 10 tháng 1 năm 2006. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 8 năm 2008. Truy cập ngày 6 tháng 8 năm 2008. 
  35. ^ http://enewsworld.mnet.com/enews/contents.asp?idx=23562

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]