Kim Tae-hee

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Hangugeo-Chosonmal.png
Bài viết này có chứa các ký tự Triều Tiên. Nếu không được hỗ trợ hiển thị đúng, bạn có thể sẽ nhìn thấy các ký hiệu chấm hỏi, ô vuông, hoặc ký hiệu lạ khác thay vì các ký tự Chosŏn'gŭl hay Hanja.
Kim Tae-hee
김태희

Kim Tae-hee làm người mẫu cho sản phẩm LG Optimus 3D & LG Cinema 3D
Sinh 29/3/1980 (35 tuổi)
Ulsan,[1] Hàn Quốc
Học vị Đại học Quốc gia Seoul
(B.A. ngành Thiết kế Thời trang)
Công việc Diễn viên, Người mẫu
Năm hoạt động 2000– nay
Doanh nghiệp Namooactor
Chiều cao 1,60 m (5 ft 3 in)
Tín ngưỡng Công giáo
Người thân Lee Wan (em trai)
Website
Kim Tae Hee
Kim Tae-hee
Hangul 김태희
Hán-Việt Kim Thái Hi
Romaja quốc ngữ Gim Tae-hui
McCune-Reischauer Kim T'ae-hŭi

Kim Tae Hee, (Hangul: 김태희; Nihongo: キム·テヒ; sinh ngày 29 tháng 3 năm 1980) là một nữ diễn viên Hàn Quốc. Kim Tae Hee được biết đến qua các bộ phim truyền hình như Nấc thang lên thiên đường, Chuyện tình ở Havard, IRIS, My Princess, Tình sử Jang Ok Jung'.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Kim Tae-hee sinh ra tại Busan, Hàn Quốc. Trong gia đình, cô còn có một chị gái, Kim Hee Won và em trai là nam diễn viên Lee Wan, cũng cùng xuất hiện trong Nấc thang lên thiên đường. Sau đó gia đình cô chuyển tới Ulsan, tại đây cô theo học trường Trung học nữ sinh Ulsan và có thành tích học tập với số điểm tuyệt đối, đứng đầu lớp trong suốt 3 năm học.[2]. Năm 1999, Kim Tae-hee chuyển đến Seoul để theo học ngôi trường danh giá, Đại học Quốc gia Seoul, nơi cô trở thành chủ tịch CLB trượt băng nữ Đại học Quốc gia Seoul SNU. Năm 2005, cô tốt nghiệp với tấm bằng Cử nhân ngành Thiết kế thời trang.

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 2000, Kim Tae-hee được nhân viên của một công ty quảng cáo phát hiện khi đang đi ở ga tàu điện ngầm Seoul và được mời hợp tác. Từ đó, cô bắt đầu làm người mẫu trong các quảng cáo thương mại.[3]

Năm 2001, khi đoàn làm phim Last Present cần tìm kiếm nữ diễn viên đóng vai của Lee Young Ae thời trung học thì Kim Tae Hee thử vai và được chọn. Đạo diễn phim cho biết, ông thấy ở Kim Tae-hee một vẻ thuần khiết như khí trời, giống với biệt danh "người đẹp oxi" của đàn chị Lee Young Ae. Và thế là, cô sinh viên 21 tuổi đang thiếu kinh nghiệm được thử sức trong một bộ phim điện ảnh ăn khách hợp tác cùng những tên tuổi lớn như Lee Young AeLee Jung Jae.

Năm 2002, cô tham gia bộ phim ngắn Living in New Town, phim sitcom Let's Go. Năm 2003, cô tiếp tục tham gia ScreenA Problem at My Younger Brother's House.

Kim Tae Hee thực sự được chú ý qua vai phản diện Han Yuri, cô em cùng cha khác mẹ độc ác của Choi Ji Woo trong bộ phim truyền hình nổi tiếng Nấc thang lên thiên đường cuối năm 2003 của đài SBS.[4][5]

Bắt đầu từ năm 2004, Kim Tae-hee được giao vai chính nhiều bộ phim, trong đó có series phim của KBS Forbidden Love và phim truyền hình ăn khách Chuyện tình ở Harvard của đài SBS.

Sau đó Kim Tae-hee lấn sân sang phim điện ảnh, mở đầu với The Restless (2006) và phim hài lãng mạn Venus and Mars (2007). Tuy nhiên cả hai đều không thành công tại phòng vé.

Cô quay trở lại với màn ảnh nhỏ vào năm 2009 với IRIS. Đây là một trong những bộ phim tốn kém nhất trong lịch sử điện ảnh Hàn Quốc và đã trở nên ăn khách với tỉ suất người xem trung bình là 30%. Kim Tae-hee đã rơi nước mắt tại KBS Drama Awards khi cô đạt giải Excellence Award ở hạng mục Miniseries. Đây là giải thưởng diễn xuất đầu tiên của cô, bên cạnh các giải thưởng cho tân binh.

Kim Tae-hee rời công ty quản lý Namoo Actors vào tháng 1 năm 2010 để gia nhập Lua Entertainment, được thành lập bởi anh rể cô. Cùng năm đó, cô vào vai một vận động viên đua ngựa với ước mơ giành chức vô địch trong phim thể thao Grand Prix.

Sau thành công của Iris, cô một lần nữa được khen ngợi bởi diễn xuất trong bộ phim hài lãng mạn My Princess (2011); Kim Tae-hee vào vai một sinh viên bình thường phát hiện ra mình là công chúa Hàn Quốc. Sau đó, cô tham gia bộ phim truyền hình Nhật Bản Boku to Star no 99 Nichi, với vai diễn là một ngôi sao của làn sóng Hallyu Hàn Quốc đem lòng yêu một vệ sĩ người Nhật.

Năm 2013, Kim Tae-hee lần đầu đóng phim cổ trang, Tình sử Jang Ok Jung với vai diễn phi tần Jang Hui-bin. Cô tiếp tục tham gia phim cổ trang khác, trong vai vợ của nhà thư pháp nổi tiếng Trung Quốc Vương Hy Chi trong bộ phim truyền hình Trung Quốc cùng tên.

Quảng cáo[sửa | sửa mã nguồn]

Kim Tae-hee được mệnh danh là nữ hoàng quảng cáo của Hàn Quốc. Cô đã từng trở thành người đại diện của nhiều thương hiệu nổi tiếng Kim như 12Plus Colorista, Cyon, Paris Baguette, LG, iriver, Hera, Ohui, Vivian, Daewoo Matiz, Klasse, Samsung, Beans Avenue, Olympus, My House/Root, Crencia, KT Smard Card, Calli, ZEC, BC Card, Maxwell House, S-Oil, Corn Silk Tae, ToyotaPrugio.

Đời tư[sửa | sửa mã nguồn]

Vào ngày 2/1/2013, công ty quản lý của Kim Tae-hee khẳng định mối quan hệ của cô với ca sĩ/diễn viên Bi Rain "Đúng là họ đang hẹn hò, nhưng hiện tại họ đang từ từ tìm hiểu nhau với dấu hiệu tích cực" và "Họ đã hẹn hò được một tháng".

Các phim tham gia[sửa | sửa mã nguồn]

Phim truyền hình[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tựa phim Vai diễn Kênh
2002 Let's Go Tae-hee SBS
2003 Screen Kim So-hyun SBS
A Problem at My Younger Brother's House Park Su-jin SBS
Nấc thang lên thiên đường Han Yoo-ri SBS
2004 Forbidden Love Yoon Shi-yeon KBS2
Chuyện tình ở Harvard Lee Soo-in SBS
2009 Iris Choi Seung-hee KBS2
2011 Công chúa của tôi Lee Seol MBC
Boku to Star no 99 Nichi Han Yoo-na Fuji TV
2013 Jang Ok-jung, Living by Love Jang Ok-jung SBS
2014 Wang Xizhi

Phim điện ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tựa phim Vai diễn
2001 Last Present young Park Jung-yeon
2002 Living in New Town (short film) Ji-soo
2006 The Restless So-hwa/Yon-hwa
2007 Venus and Mars Yoon Jin-ah
2010 Grand Prix Seo Ju-hee
Iris: The Movie Choi Seung-hee

Video âm nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Bài hát Nghệ sĩ
2002 "Letter" g.o.d.
2003 "Only" The Jun
2004 "Don't Go Away" Park Yong-ha
2014 "Koinonia"[6] Korean Catholic celebrities

Giải thưởng và đề cử[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Giải thưởng Hạng mục Tác phẩm Kết quả
2003 SBS Drama Awards[7] New Star Award Stairway to Heaven Đoạt giải
2004 KBS Drama Awards[8] Best New Actress Forbidden Love Đoạt giải
SBS Drama Awards[7] Top 10 Stars Love Story in Harvard Đoạt giải
Popularity Award, Actress Đoạt giải
2005 41st Baeksang Arts Awards[7] Most Popular Actress (TV) Đoạt giải
2007 43rd Baeksang Arts Awards[7] Most Popular Actress (Film) The Restless Đoạt giải
3rd Pyeongtaek Film Festival New Currents Movie Star - Best New Actress Đoạt giải
15th Chunsa Film Art Awards Best New Actress Đề cử
42nd Grand Bell Awards[7][9] Overseas Popularity Award Đoạt giải
Best New Actress Đề cử
28th Blue Dragon Film Awards[7][9] Popular Star Award Đoạt giải
Best New Actress Đề cử
6th Korean Film Awards[9] Best New Actress Đề cử
Andre Kim Best Star Awards Female Star Award - Đoạt giải
2009 KBS Drama Awards[10] Best Couple Award with Lee Byung-hun Iris Đoạt giải
Excellence Award, Actress in a Mid-length Drama Đoạt giải
2010 46th Baeksang Arts Awards Best Actress (TV) Đề cử
3rd Korea Drama Awards Excellence Award, Actress Đề cử
2011 6th Seoul International Drama Awards Outstanding Korean Actress My Princess Đề cử
MBC Drama Awards Top Excellence Award, Actress in a Miniseries Đề cử
2013 Cosmo Beauty Awards Asia Dream Star - Đoạt giải
SBS Drama Awards Excellence Award, Actress in a Drama Special Jang Ok-jung, Living by Love Đề cử

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ (꿈은 이루어진다)온몸에 2도화상 서정은양 김태희씨와 촬영, Donga Ilbo, Retrieved 23 Nov. 2011.(tiếng Triều Tiên)
  2. ^ http://www.allkpop.com/2009/09/kim_taehee_is_perfect
  3. ^ http://www.cnngo.com/tokyo/life/kim-tae-hee-south-koreas-most-beautiful-woman-105927
  4. ^ “(인터뷰) '구미호외전' 주연 김태희” (bằng tiếng Triều Tiên). Yonhap. 2 tháng 7 năm 2004. 
  5. ^ “김태희 데뷔시절, 이효리와 주먹 대결연기 풋풋해...” (bằng tiếng Triều Tiên). Newsen. 15 tháng 11 năm 2007. 
  6. ^ Lee, Sun-min (8 tháng 7 năm 2014). “Star-filled video welcomes pope”. Korea JoongAng Daily. Truy cập ngày 8 tháng 7 năm 2014. 
  7. ^ a ă â b c d “Profile”. Kim Tae-hee official website. Truy cập ngày 4 tháng 12 năm 2012. 
  8. ^ “Winners at the 2004 KBS Drama Awards”. Korea Tourism Organization. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2012. 
  9. ^ a ă â “KIM Tae-hee - Awards”. Cinemasie. Truy cập ngày 15 tháng 6 năm 2014. 
  10. ^ Han, Sang-hee (3 tháng 1 năm 2010). “2009 Drama Awards Wrap Up With No Surprises”. The Korea Times. Truy cập ngày 4 tháng 12 năm 2012. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]