Choi Ji Woo

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Choe Ji-u
Tên khai sinh Choe Mi-hyang
Sinh 11 tháng 6, 1975 (38 tuổi)
Paju, Gyeonggi-do, Hàn Quốc
Hoạt động 1995—hiện tại
Trang web www.starjiwoo.com
Nghệ danh
Hangul 최지우
Hanja (Hán tự) 崔志宇
Hán-Việt Thôi Chí Vũ
McCune-Reischauer Ch'oe Chiu
Romaja quốc ngữ Choe Ji-u
Choi Ji Woo
Hangul 최미향
Hanja (Hán tự) 崔美香
Hán-Việt Thôi Mĩ Hương
McCune-Reischauer Ch'oe Mihyang
Romaja quốc ngữ Choi Mi-hyang

Choi Ji-woo hay Choe Ji-u (Chosŏn'gul: 최지우, chữ Hán: 崔志宇; sinh ngày 11 tháng 6, 1975) là một nữ diễn viên Hàn Quốc.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Choe Ji-u tên thật là Choe Mi-hyang, sinh ngày 11 tháng 6 năm 1975 tại tại Paju, Gyeonggi-do, Hàn Quốc. Bố mẹ cô là ông Choe Un-yeong và bà Yun Gil-ja. Cô là con út trong một gia đình hai anh em sống tại Paju. Ngay từ nhỏ đã được mọi người khen ngợi là có gương mặt thánh thiện như Đức Mẹ. Khi lên năm tuổi, Choe đã mơ ước sau nay mình sẽ trở thành người nổi tiếng, được mọi người yêu mến và tung hô. Cô cũng đã tỏ ra có năng khiếu hát và múa. Cha mẹ mong Choe trở thành ca sĩ lừng danh nhưng cô thì đam mê nghệ thuật múa hơn, đặc biệt là những giai điệu trong vở nhạc kịch Hồ Thiên Nga. Choe từng tâm sự với mẹ và mong mẹ sẽ biến ước mơ của mình thành sự thật.[cần dẫn nguồn]

Choe Ji-woo từng theo học Tiểu học Suyeong, THCS Suyeong và Trung học nữ Dukmun, Đại học Pusan, khoa Thể dục nhịp điệu và Đại học Hanyang, ngành Sân Khấu - Điện Ảnh. Khi còn đi học, Choe không mấy được lòng bạn bè. Dù là học sinh khá nhưng tính tình ngay thẳng, bộ trực như con trai nên nếu trong một vài động tác cô giáo dạy múa hướng dẫn không thật chuẩn, lập tức Choe sẽ xin được thử lại, yêu cầu cô sửa động tác cho thật nhuần. Vì vậy các thầy cô đều e ngại khi hướng dẫn lớp có Choe còn các bạn thì cho rằng cô là chơi trội. Choe vẫn tiếp tục làm theo cách của mình. Những bài tập, những buổi diễn trả bài của Choe đều được ghi nhận là có sáng tạo nhưng mọi người đều nói, nếu không biết cùng nâng đỡ những bước chân sai lệch trên sàn múa, cô sẽ khó lòng thành công. Vì vậy Choe tự hứa sẽ bớt cầu toàn hơn, không tự đòi hỏi cái gì cũng phải tuyệt vời, tuyệt đối.[cần dẫn nguồn]

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Ji-u lần đầu tiên được phát hiện khi cô giành được chiến thắng trong cuộc thử giọng được tổ chức bởi đài MBC vào năm 1994, và xuất hiện lần đầu vào năm 1995 trong bộ phim truyền hình War and Love, cũng từ đây xuất hiện nghệ danh Choe Ji-u. Cô tham gia phim truyền hình Mối tình đầu Cheot Sarang, khi cô lần đầu tiên được ghép đôi với nam diễn viên Bae Yong-jun. Sau đó Ji-u tiếp tục tham gia diễn xuất trong các phim truyền hình và phim điện ảnh khác, tỉ như Olgami (1997), các phim hài First Kiss (1998) và Pyano jineun daetongryeong (2002). Nhưng chính các vai diễn về những nhân vật nữ có số phận bi kịch với hình ảnh trong sáng và thuần khiết - như trong các phim Truth (2000) và Những ngày tươi đẹp (Ahreumdahwoon Naldeul) (2001) đã làm cho danh tiếng và sự nghiệp của Choe Ji-u nổi lên như diều gặp gió.

Năm 2002, cô đồng đóng vai chính một lần nữa với Bae Yong-jun của đài KBS trong bộ phim Bản tình ca mùa đông (Gyeoul Yeonga) của đạo diễn Yun Sok-ho. Phần thứ hai của loạt phim truyền hình bốn mùa của Yun (cũng được gọi là "Tình yêu vĩnh cửu"), Bản tình ca mùa đông nhanh chóng trở thành một phim thành công vang dội và là hiện tượng trên toàn châu Á, mở đầu cho làn sóng Hàn Quốc tràn ngập khắp châu Á. Kết quả là, danh tiếng của Choe lan khắp toàn cõi Á Châu, nhất là Nhật Bản. Cô đã trở thành diễn viên lồng tiếng cho bộ phim hoạt hình Nhật Bản chuyển thể từ tác phẩm trên. Cô tiếp tục có một vai điễn thành công trong bộ phim Nấc thang lên thiên đường (Cheongguki ketan - 2003) với Gwon Sang-u.

Choe sau đó đóng vai chính trong phim Thành phố trên không của đài MBC, phim đầu tiên của cô trong ba năm. Trong phim, cô đóng vai Han Do Kyung, giám đốc điều hành của sân bay Incheon, một vai trò cần biết đa ngôn ngữ. Sau đó cô đóng vai chính đối diện Yoo Ji-tae trong bộ phim truyền hình Người tình của ngôi sao của đài SBS, một nữ diễn viên hàng đầu người đem lòng yêu một người bình thường.

Trong năm 2009, cô thành lập công ty quản lý của riêng mình với tên gọi là www.cjwcompany.co.krC, JW Company.[1] Cùng năm đó Ji-u cũng tham gia vào các phim Yeobaewoodeul[2][3]Người tinh của ngôi sao. Trong phim "Người tình của ngôi sao", cô nhận được thù lao 48 triệu won Hàn Quốc cho mỗi tập, cao nhất đối với một nữ diễn viên Hàn Quốc tại thời điểm đó. (kỷ lục của cô đã bị phá vỡ bởi Go Hyeon-jeong với 55 triệu won Hàn Quốc cho bộ phim truyền hình Daemul 2010)

Năm 2011, Choe tham gia bộ phim Can't lose, với Yuk Sang-hyeon trong vai 1 cặp vợ chồng luật sư đang đối mặt với nguy cơ tan vỡ gia đình. Choe nói rằng cô không ngại ngùng phá vỡ hình ảnh trong sáng thánh thiện của mình trước đây, cô cũng cho rằng trên thực tế cô giành được nhiều người hâm mộ hơn khi thể hiện hình ảnh vui vẻ, dễ tính trong phim 2 ngày và 1 đêm.[4][5]

Đời tư[sửa | sửa mã nguồn]

Choe học chuyên ngành múa hiếu khí tại Đại học nữ sinh Pusan. Cô ghi danh vào Đại học tổng hợp Hanyang khoa điện ảnh và kịch và hoàn thành năm đầu tiên của cô, tuy nhiên cô đã phải bảo lưu kết quả học tập do lịch làm việc bận rộn của cô.

Choi hẹn hò với Lee Jin-wook sau bộ phim Thành phố trên không. Tuy vậy cặp đôi này đã chia tay vào đầu năm 2011.

Các phim đã đóng[sửa | sửa mã nguồn]

Phim truyền hình[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tên phim Vai diễn
1995 Chiến tranh và tình yêu War and Love
1996 Mối tình đầu First Love (KBS) Jang Seok-hee
1997 Happiness is in Our Hearts (SBS)
1998 Love (MBC) Yoo Ji-young
1999 Love In Three Colors
Love Story - "Message" (SBS)
2000 Truth (MBC) Lee Ja-young
Mr. Duke (MBC) Jang Soo-jin
2001 Beautiful Days (SBS) Kim Yeon-soo
2002 We Are Dating Now (KBS) Ep. 15 cameo
Bản tình ca mùa đông Winter Sonata (KBS) Jung Yoo-jin
2003 101st Proposal Li Shao Rong
Nấc thang lên thiên đường Stairway to Heaven (SBS) Han Jung-suh
2006 RONDO (TBS) Choi Yoon-Ah
2007 Thành phố trên không Air City (MBC) Han Do-kyung
2008 Người tình của ngôi saoA Star's Lover (SBS) Lee Ma-ri
2009 Bản tình ca mùa đông Winter Sonata phim hoạt hình Jung Yoo-jin (lồng tiếng)
2011 Fuyu no Sakura (Khách mời)

Phim điện ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tên phim Vai diễn
1996 The Adventures of Mrs Park
1997 The Hole Su-jin
1998 First Kiss Song Yeon-hwa
1999 Nowhere to Hide Juyon
2002 Người tình tổng thống The Romantic President Choi Eun-ju
2004 Everybody Has Secrets Han Seon-yeong
2005 Shadowless Sword (cameo)
2006 Now and Forever Han Hye-won
2009 Actresses Choi Ji-woo

Giải thưởng[sửa | sửa mã nguồn]

  • 2009: Đại sứ du lịch Busan cho năm 2010-2012
  • 2009: Khen thưởng của Tổng thống Hàn Quốc để thúc đẩy du lịch của Hàn Quốc
  • 2009: Được đưa vào Star Hall of Fame tại lễ trao giải Seoul Drama
  • 2006: Giải thưởng Timeless Beauty Acting (Seoul)
  • 2005: Hiệp hội Phim Hàn Quốc - Giải đặc biệt
  • 2005: Baeksang Arts Awards lần thứ 41 - Giải thưởng đặc biệt cho Hàn lưu
  • 2004: Baeksang Arts Awards lần thứ 40 - Popularity Award, thể loại truyền hình
  • 2003: Golden Film Awards - Popularity Award
  • 2003: SBS Drama Awards - Nữ diễn viên xuất sắc nhất cho phim Nấc thang lên thiên đường
  • 2003: SBS Drama Awards - Top 10 ngôi sao Nấc thang lên thiên đường
  • 2002: KBS Drama Awards - Popularity Award
  • 2002: KBS Drama Awards - Nữ diễn viên xuất sắc nhất cho phim Bản tình ca mùa đông
  • 2002: Giải thưởng Best Dresser - Thể loại tài năng truyền hình
  • 2002: Baeksang Arts Awards lần thứ 38 - Popularity Award
  • 2001: SBS Drama Awards - Nữ diễn viên xuất sắc nhất cho phim những ngày tươi đẹp
  • 2001: SBS Drama Awards - Top 10 ngôi sao những ngày tươi đẹp
  • 2000: MBC Drama Awards - Nữ diễn viên xuất sắc nhất cho phim chàng hoàng tử gặp may
  • 1999: Video Music Awards - Golden Video Best Actress For Your Soul
  • 1998: Baeksang Arts Awards lần thứ 34 - Nữ diễn viên mới xuất sắc nhất The Hole
  • 1998: 21 Grand Bell Awards - Nữ diễn viên mới xuất sắc nhất The Hole
  • 1995: Giải thưởng Hàn Quốc Isabelle Adjani

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]