YG Entertainment

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
YG Entertainment Inc.
Ngành nghề Âm nhạc & giải trí
Thành lập 3/1996
Nhà sáng lập Yang Hyun Suk
Trụ sở chính Cờ của Hàn Quốc Seoul, Hàn Quốc
Thành viên
chủ chốt
Yang Hyun Suk
Sản phẩm Âm nhạc & giải trí
Dịch vụ Âm nhạc & giải trí
Chủ sở hữu Yang Hyun Suk
Website www.ygfamily.com

YG Entertainment là một hãng thu âm và là một công ty tài năng được thành lập bởi thành viên cũ của nhóm nhạc Hàn Quốc Seotaiji & Boys - Yang Hyun Suk, trụ sở được đặt tại Seoul, Hàn Quốc. Công ty hướng về sản xuất dòng nhạc R&BHip hop. YG là viết tắt của Yang Goon và cũng là tên gọi tắt của giám đốc điều hành, Yang Hyun Suk.[1] Những nghệ sĩ trực thuộc của YG hiện nay bao gồm Big Bang, 2NE1, PSY, Winner, Epik High, Se7en, Akdong Musician, Lee Hi...

Đây là một trong ba công ty thu âm lớn ở Hàn Quốc cùng với S.M. EntertainmentJYP Entertainment bởi chiến lược marketing mạnh mẽ và các hoạt động ở quốc tế. Những bản thu âm được phát hành thông qua nhà phân phối của YG Entertainment, Mnet Media. Avex Entertainment và YG Entertainment mới đây đã hình thành một dự án tại Nhật Bản có tên là YGEX.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Vào tháng 3/1996, Yang Hyun Suk, một thành viên cũ của Seotaiji & Boys, đứng ra thành lập YG Entertainment. Nhóm nhạc đầu tiên được ra mắt dưới trướng công ty là Keep Six với album duy nhất Six in tha Chamber phát hành vào tháng 5 cùng năm. Jinusean là nghệ sĩ tiếp theo ra mắt và là nghệ sĩ đầu tiên đạt được thành công lớn. 1TYM tiếp bước phát hành album cùng năm với CEO Yang Hyun Suk. 1TYM và Jinusean nhanh chóng đưa đến với công chúng thể loại âm nhạc Hip hop. Vào năm 1999, các nghệ sĩ của công ty cùng hợp tác thu âm album dưới tên YG Family.

Công ty nhanh chóng phát hành album của các nghệ sĩ mới, Perry, Swi.T, Wheesung, và album hợp tác thứ 2 của YG Family cũng được ra mắt vào năm đó. Vào năm 2003, Big Mama ra mắt, là nhóm nhạc đầu tiên nổi tiếng nhờ giọng hát chứ không phải vẻ bề ngoài. Se7en cũng ra mắt sau đó, cùng với LexyGummy. Năm 2005, YG Underground thành lập và phát triển để quản lí các nghệ sĩ là 45RPM và Stony Stunk. Ngoài ra, Se7en bắt đầu tiến ra nước ngoài và phát hành album tại Nhật, tham gia vào sự cộng tác giữa YG Entertainment và Nexstar Records. Big Bang ra mắt vào năm 2006 và đó là nhóm nhạc idol đầu tiên của công ty.

Big Bang nhanh chóng nổi tiếng kể từ khi ra mắt cho tới khoảng thời gian phát hành album tiếng Hàn thứ hai Remember. Năm 2008 cũng đánh dấu những album được phát hành bởi Gummy và Uhm Jung Hwa. Vào năm 2009, 2NE1 ra mắt và nhanh chóng trở thành một trong những nhà thống trị Kpop. Big Bang rẽ hướng sang Nhật Bản và phát hành album tiếng Nhật đầu tiên, For the World. G-Dragon, trưởng nhóm của Big Bang, phát hành album solo đầu tiên tại Hàn Quốc và nó trở thành album bán chạy nhất năm 2009.

Psy, một nghệ sĩ rap nổi tiếng, ký hợp đồng gia nhập năm 2010 và phát hành album Psy Five. Ngoài ra, công ty định tham gia thị trường chứng khoán nhưng đã bị từ chối. Người ta cho rằng lý do là vì YG Entertainment có quá ít nghệ sĩ và thu nhập không ổn định, cho dù thu nhập của công ty tăng dần tại Hàn Quốc và Nhật Bản vào năm 2009. YG Entertainment đã thông qua Ủy ban giao dịch chứng khoán công khai trên KOSDAQ để tham gia. Giá cổ phiếu dự kiến sẽ vào khoảng 24.600-28.800 won (khoảng 22–26 USD). Khoảng 35 triệu won sẽ kinh doanh chào bán công chúng.Sau đó PSY phát hành ra MV mới mang tên Gangnam Style, MV này đạt được trên 1.000.000.000 lượt xem trên YouTube, PSY vừa được nhận giải MV xuất sắc tại giải MTV được tổ chức vào tháng 11 năm 2012. Sau thành công rực rỡ đó, PSY tiếp tục cho ra MV Gentleman. Năm 2014, Gangnam Style đã chạm mốc 2.000.000.000 lượt xem trên Youtube và là MV có nhìều lượt xem nhất trên toàn thế giới tình đến nay.[cần dẫn nguồn]

Đối tác[sửa | sửa mã nguồn]

Trong nước, YG đã có quan hệ đối tác với M-Boat Entertainment và EunGun Entertainment, Yamazone Music và Booda Sound. Sau khi hợp đồng với Big Mama và Soul Star kết thúc, EunGun và M-Boat cũng kết thúc các hoạt động của họ với YG Entertainment.

Bắt đầu từ năm 2005, YG mở rộng sang thị trường nước ngoài. Se7en là nghệ sĩ YG đầu tiên mở rộng hoạt động sang những nước còn lại của Châu Á. YG đã hợp tác cùng Nexstar Records, một nhãn hiệu Nippon Columbia, để quản lý việc phát hành những sản phẩm tiếng Nhật của Se7en [2]

Universal Music Japan quản lí các hoạt động tại Nhật của Big Bang,[3]Avex Group quản lí các hoạt động tại Nhật của 2NE1.[4] YG Entertainment phát hành các album tiếng Hàn thông qua 21 East Entertainment tại Trung Quốc, GMM International tại Thái Lan, và Universal Records tại Philippines.[5][6][7]

Năm 2011, YG Entertainment hợp tác với S.M. Entertainment, JYP Entertainment, KeyEast, AMENT và Star J Entertainment tạo nên United Asia Management để tạo ra một nỗ lực quảng bá âm nhạc Hàn Quốc ra quốc tế [8]

KMP Holdings[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 3 năm ngoái, KMP Holdings đã được thành lập thông qua hợp tác giữa YG, S.M. Entertainment, JYP, Star Empire, và các công ty khác. KMP là nhà phân phối chính thức những sản phẩm của những công ty trên. KMP là viết tắt của Korean Music Power.[9]

United Asia Management[sửa | sửa mã nguồn]

SM Entertainment, YG Entertainment, JYP Entertainment, KeyEast, AMENT và Star J Entertainment sẽ tham gia để tạo nên một cơ quan quản lý lớn với cái tên ‘United Asia Management‘! Sự hợp tác này sẽ tạo ra nỗ lực thúc đẩy 'Hallyu' sang 'Asianlyu'. United Asia Management nhằm mục đích là nhà tiên phong thị trường toàn cầu, và tất cả các nghệ sĩ trực thuộc dưới sáu công ty con sẽ được hệ thống cơ sở dữ liệu toàn quyền quản lí. Một hệ thống sản xuất mới sẽ sử dụng cho phim ảnh và các phương tiện truyền thông khác. UAM cũng đóng vai trò là cơ quan toàn cầu cho các kế hoạch quảng bá, hoặc đang quảng bá, tại nước ngoài. UMA sẽ chính thức thành lập vào tháng 4/2011.

YGEX[sửa | sửa mã nguồn]

YGEX được thành lập dưới quan hệ đối tác giữa Avex Group và YG Entertainment cho việc quảng bá và phát hành của các nghệ sĩ YG tại Nhật Bản. Các nghệ sĩ của YGEX bao gồm tất cả những nghệ sĩ đang hoạt động thuộc YG Entertainment.[10]

YG & Huyndai Card[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 6 năm 2012, YG đã kết hợp cùng với hãng sản xuất Huyndai để chung tay phát hành và quảng bá Album "Alive" của Big Bang

Từ thiện[sửa | sửa mã nguồn]

YG Entertainment là một công ty tham gia rất nhiều hoạt động từ thiện, tạo dựng chiến dịch cộng đồng cùng với WITH. Họ quyên góp 100 won cho mỗi album bán ra, 1% từ các doanh thu bán lẻ, và 1,000 won cho bất cứ các vé hòa nhạc nào được bán ra cho các tổ chức từ thiện. Vào năm 2009, số tiền lên tới $141,000 USD. Họ vượt mức số tiền đó vào năm sau với $160,000 USD. Tổng cộng là $87,000 USD dành cho các suất học bổng cho Holt Children’s Services trong khi $69,000 USD là dành cho các trẻ em mắc bệnh hiểm nghèo. YG Family cũng đã trực tiếp quyên tặng $4,400 USD, đó là số tiền mua than cho các gia đình nghèo khó trong mùa đông.[11] Công ty cũng thông báo rằng sẽ ủng hộ khoảng USD$500,000 cho việc cứu trợ các nạn nhân của trận động đất và sóng thần tại Nhật Bản năm 2011.[12]

Các nghệ sĩ[sửa | sửa mã nguồn]

Nhà sản xuất[sửa | sửa mã nguồn]

  • G-Dragon (thành viên của BIG BANG)
  • E.knock (được biết đến là Kush của Stony Skunk)
  • Choi Pilkang (PK)
  • DEE.P
  • Bigtone
  • Lydia Paek (thành viên của Quest Crew)

Diễn viên[sửa | sửa mã nguồn]

Thành viên cũ[sửa | sửa mã nguồn]

  • Ji-eun
  • Soul Star
  • Stony Skunk
  • Swi.T
  • XO
  • YMGA

Vũ công[sửa | sửa mã nguồn]

  • Crazy Girls Dance Team (Nhóm nhảy nữ): Kim Ji Hye, Yun Hee Jin, Yun Hee So, Bock Mi Ran, Won A Yeon, Kim Min Jung, Oh Hye Ryeon
  • Hi-Tech Dance Team (Nhóm nhảy nam): Kwon Yong Deuk, Kwon Yong Don (Kwon Twins), Park Jung Heon, Seo Ki Chul, Jo Sung Min, Kim Byung Gon, Kwon Chul Jun, Kim Kwang Won, Kim Hee Yun

YG Family Concerts và Tours[sửa | sửa mã nguồn]

  • One Concert 2003 (Hàn Quốc)
  • Color of the Soul Train (Hàn Quốc)
  • One Concert 2004 (Hàn Quốc)
  • Thank U Concert 2005 (Hàn Quốc)
  • One Concert 2005 (Hàn Quốc)
  • 10th Anniversary World Tour 2006 (Hàn Quốc, Nhật Bản và Mỹ)
  • One Concert 2007 (Hàn Quốc)
  • Concert 2010 (Hàn Quốc)
  • YG Family Concert 2012 (Hàn Quốc Nhật Bản)
  • YG Family Conert 2014 : POWER

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ http://www.youtube.com/user/YGEntertainment
  2. ^ McClure, Steve and Russell, Mark (11 tháng 6 năm 2005). “Korean Pop Seeps Into Japan”. Billboard. Billboard. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2011. 
  3. ^ “Big Bang”. Big Bang - Universal Music Japan. Universal Music Group. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2011. 
  4. ^ “2NE1”. 2NE1 - Avex Official Website. Avex Group. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2011. 
  5. ^ “It's Confirmed! Universal Records Will Release 2NE1 Albums!”. Universal Records Philippines Facebook Page. Facebook. 20 tháng 11 năm 2010. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2011. 
  6. ^ “Lucky Number for 2011 is Se7en”. Universal Records Philippines Facebook Page. Facebook. 8 tháng 12 năm 2010. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2011. 
  7. ^ “VIPs, You're Next”. Universal Records Philippines Facebook Page. Facebook. 13 tháng 1 năm 2011. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2011. 
  8. ^ (tiếng Triều Tiên)Lee, Jung Hyung (8 tháng 4 năm 2011). “키이스트, SM, YG, JYP 등 6개사 아시아 매니지먼트 에이전시 'UAM' 설립! (KeyEast, SM, YG, JYP & more join forces to establish a new global agency, "United Asia Management")”. Naver.com. Truy cập ngày 8 tháng 4 năm 2011. 
  9. ^ http://news.mk.co.kr/newsRead.php?sc=30000019&cm=%EC%A6%9D%EA%B6%8C%20%EC%A3%BC%EC%9A%94%EA%B8%B0%EC%82%AC&year=2010&no=138710&selFlag=&relatedcode=&wonNo=&sID=502
  10. ^ “YGEX オフィシャルレーベルサイト” [YGEX Official Website]. YGEX (bằng tiếng Nhật). YG Entertainment and Avex Group. Truy cập ngày 4 tháng 9 năm 2011. 
  11. ^ (tiếng Triều Tiên)“YG, 2년 연속 1억원+@ 금액 기부”. Newsen. 28 tháng 12 năm 2010. Truy cập ngày 5 tháng 3 năm 2011. 
  12. ^ Lee, Hye-rin (15 tháng 3 năm 2011). “YG, 日대지진 피해에 5억원 기부 결정” [YG Entertainment decided to donate 500 million won to earthquake victims]. Naver News (bằng tiếng Triều Tiên). NHN Corp. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2011. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]