G-Dragon
| G-Dragon | |
|---|---|
| Tên khai sinh | Kwon Ji-Yong |
| Nghệ danh | G-Dragon |
| Sinh | 18 tháng 8, 1988 |
| Nguyên quán | |
| Nghề nghiệp | Rapper, Ca sĩ, Nhà sản xuất âm nhạc, Nhạc sĩ hòa âm |
| Thể loại | pop, dance, hip-hop |
| Năm | 8-2006 - nay |
| Hãng đĩa | YG Entertainment |
| Hợp tác | Big Bang |
| Website | http://www.ygbigbang.com/gdragon/ |
G-Dragon (지드래곤) tên thật là Kwon Ji-Yong (권지용) (sinh ngày 18 tháng 8 năm 1988) ca sĩ kiêm nhạc sĩ nổi tiếng của Hàn Quốc. Anh từng là thực tập sinh của YG Entertainment trong suốt sáu năm, G-Dragon chính thức ra mắt với tư cách trưởng nhóm và là một trong hai tay rap của nhóm nhạc hip-hop Hàn Quốc Big Bang. Từ khi chính thức ra mắt, G-Dragon cũng tham gia vào việc sản xuất album, viết và hòa âm một số ca khúc như Lies, Last farewell và Haru haru. Những việc này của G-Dragon nhận được rất nhiều phản hồi tích cực cũng như tiêu cực từ giới phê bình.[1]
Trong quá trình hoạt động của Big Bang, G-Dragon cũng phát hành album đầu tay của riêng mình mang tên Heartbreaker vào năm 2009. Album đã trở thành album xuất sắc nhất của năm với doanh số tiêu thụ hơn 120,000 bản. Album cũng mang lại cho anh những tranh cãi bao gồm cả cáo buộc "đạo nhạc".
| Tên thật | |
|---|---|
| Hangul |
권지용
|
| Hanja (Hán tự) | |
| Hán-Việt | Quyền Chí Long |
| McCune-Reischauer | Kwŏn Chiyong |
| Romaja quốc ngữ | Kwon Ji-yong |
| Nghệ danh | |
|---|---|
| Hangul |
지드래곤
|
| McCune-Reischauer | Chidŭraegon |
| Romaja quốc ngữ | Jideuraegon |
Mục lục |
Sự nghiệp [sửa]
2000 – 2009: Những năm đầu đời và ra mắt với Big Bang [sửa]
Bị ảnh hưởng bởi nhóm Wu-Tang Clan của Mĩ, G-Dragon sớm hướng sự yêu thích của mình vào rap và bắt đầu luyện tập từ năm 12 tuổi[2]. Trong lúc vẫn đang tìm kiếm người dẫn dắt, anh gặp nhóm hip-hop People's Crew[2]. Dưới sự hướng dẫn của nhóm, anh đã tham gia trong album hip-hop Hàn Quốc mang tên Flex vào năm 2001. Mặc dù tự viết lời cho ca khúc của mình nhưng anh thừa nhận rằng "lúc đó còn nhỏ nên vốn tiếng Anh lúc đó rất tệ nên nội dung ca từ không có gì mới, chỉ quẩn quanh chuyện 'Tôi còn trẻ, nhưng tôi là nhất'"[2]. G-Dragon nhanh chóng hứng thú với Sean trong nhóm song ca hip-hop JinuSean thuộc YG Entertainment, không lâu sau anh được họ tiến cử cho giám đốc Yang Hyun Suk. Sau khi kí hợp đồng, G-Dragon trải qua năm đầu tiên với công việc lau dọn phòng tập[2]. Trong thời gian này, anh gặp một thực tập sinh khác là Dong Yong Bae. Sau này, cả hai được gộp thành nhóm GDYB[3]. Sau 6 năm luyện tập và một vài lần được giới thiệu trong một số album của các ca sĩ khác, G-Dragon chính thức ra mắt với tư cách trưởng nhóm của Big Bang bên cạnh Young Bae (hiện nay là Taeyang) và ba thực tập sinh khác.
Việc hợp thành nhóm đã được ghi lại thành phim tài liệu phát sóng trên truyền hình[4], và mặc dù khởi đầu với 6 thành viên, một trong số đó(so 1) đã bị loại trước khi chính thức ra mắt[3]. Sự ra mắt của nhóm gặt hái nhiều thành công với album đầu tiên đạt doanh số hơn 40,000 bản[5], tạo ra nhiều hit được phát liên tục trên các đài như "La la la" và "We belong together". Trong album cũng có một ca khúc riêng đầu tiên của G-Dragon, một phiên bản cover của "This love", một single của nhóm rock alternative Mĩ Maroon 5[4]. Trong mini album tiếp theo của nhóm mang tên Always được phát hành vào năm 2007, G-Dragon bắt đầu tham gia vào công đoạn sản xuất album[6]. Mini album này đã giới thiệu một vài ca khúc được anh sáng tác bao gồm cả single chủ đạo "Lies" (tiếng Triều Tiên: 거짓말), ca khúc đã trở thành hit lớn đầu tiên của nhóm. Mini album sau đó nối tiếp thành công: Hot Issue với single "Last Farewell" (tiếng Triều Tiên: 마지막 인사), trong khi Stand Up với "Haru Haru-Day by Day" (Korean: 하루하루), cả hai ca khúc đều chiếm được hạng nhất trên nhiều bảng xếp hạng[7][8].
G-Dragon nhận được giải thưởng "Biểu tượng phong cách của năm 2008" vì thời trang mang đậm cá tính và là một trong 8 nhạc sĩ phối khí hay nhất Hàn Quốc của năm 2008[9], và giải thưởng "Người có ảnh hưởng lớn nhất trong năm 2008" do tạp chí Arena bình chọn dựa trên phong cách của anh[10].
2009 – hiện tại: Phát triển sự nghiệp solo [sửa]
Song song với Big Bang, G-Dragon cũng có một số hoạt động solo. Sau khi hỗ trợ Taeyang sản xuất album đầu tay với tư cách ca sĩ đơn, anh cũng ghi âm ca khúc chủ đạo của album là "Only look at me" (나만바라봐), với tên "Only look at me part 2" (나만바라봐 Part 2). Phiên bản này chỉ được phát hành trên mạng. Cùng với Taeyang và T.O.P, G-Dragon cũng được giới thiệu trong ca khúc "Super fly" nằm trong album Rush của ca sĩ Lexy. Tháng 5/2009, anh hợp tác cùng nhóm nhạc Nhật W-inds trong single của họ mang tên "Rain is fallin'/Hybrid Dream"[11][12].
G-Dragon chính thức bắt đầu sự nghiệp solo với album đầu tay Heartbreaker, với sự tham gia của một số ca sĩ như Teddy của 1TYM, Taeyang, S-Kush, CL và Dara của 2NE1. Ban đầu album được lên kế hoạch phát hành trong tháng 4, nhưng sau đó đã dời sang tháng 8[13] để khớp với ngày sinh nhật thứ 21 của anh[14]. Album đánh dấu sự thay đổi hình tượng của G-Dragon với mái tóc được nhuộm vàng để phù hợp với ý tưởng chủ đạo. Cùng với sự thành công của ca khúc chủ đề, album đạt được doanh số hơn 150,000 bản[15] và đạt giải "Album của năm" tại giải thưởng Mnet Asian Music 2009[16]. Single thứ hai trích từ album là "Breathe", cũng lọt vào top 20[17] trong khi những ca khúc khác "The Leaders", "A Boy", "Hello", và "She's Gone" tiếp tục có mặt trong các bảng xếp hạng khác nhau[18]. Album chứng tỏ được khả năng đa dạng của G-Dragon khi rất nhiều phong cách nhạc như R&B, hip-hop, rock và dance được tập hợp trong các ca khúc.
Được sự hậu thuẫn từ thành công của album, G-Dragon tổ chức concert cá nhân đầu tiên[19] mang tên Shine a light[20]. Chương trình đã vấp phải nhiều tranh cãi vì những nội dung được cho là có tính chất khiêu dâm[19][21]. Bộ Y Tế, Bộ Gia đình và Xã Hội Hàn Quốc đã yêu cầu công tố viên chính phủ điều tra về việc G-Dragon hoặc YG Entertainment có vi phạm luật trong việc biểu diễn khiêu dâm trong chương trình hay không[22]. Ngày 15 tháng 3 năm 2010, G-Dragon đưược tuyên bố vô tội và không vướng phải bất cứ cáo buộc nào[23].
Phong cách âm nhạc [sửa]
Âm nhạc của G-Dragon được đặt trên nền tảng là Hip Hop. Bị ảnh hưởng bởi âm nhạc của The Wu-Tang Clan, G-Dragon tham gia hát trong album Hip Hop Flex vào năm 2001 khi chỉ mới 12 tuổi. Trong những năm được đào tạo, Kwon Ji Yong cũng được định hướng theo phong cách Hip Hop[24].
Tranh cãi [sửa]
G-Dragon bị Sony Music buộc tội đạo nhạc khi ca khúc "Heartbreaker" và "Butterfly" được cho là giống với "Right Round" của Flo-Rida và "She's Electric" của nhóm Oasis[25][26]. EMI, đơn vị giữa quyền đối với "Right Round" cho rằng giữ hai ca khúc không có điểm nào giống nhau[27]. Sony Hàn Quốc đã không cho phép G-Dragon tiếp tục quảng bá những ca khúc này khi chưa có hành động bồi thường thiệt hại. Ngày 21 tháng 9 năm 2009, tạp chí Sisa, một chương trình mới của đài MBC, dẫn nguồn tin từ những quan chức của Sony rằng họ đã gửi cho YG Entertainment thư cảnh cáo về việc vi phạm tác quyền này. Người đại diện pháp lí của Sony cũng cho biết: "Thật khó để có quyết định chính xác đối với những tranh cãi trong âm nhạc". Tuy nhiên, họ đã quyết định rằng giữa các ca khúc có sự giống nhau và tiếp sau đó họ đã gửi thư cảnh cáo đến đơn vị sản xuất và các nhạc sĩ hòa âm. Họ cũng không cho phép YG Entertainment quảng bá những ca khúc này. Cả Big Bang lẫn đồng nghiệp cùng công ty là 2NE1 đều bị đặt dưới những cáo buộc vi phạm tương tự[28]. Tuy nhiên, YG Entertainment cho rằng không có bất kì quyết định nào có tính pháp lí được đưa ra và rằng "lá thư" mà YG nhận được từ Sony không được xem là một hành động có tính pháp lý; công ty này cũng thông báo họ vẫn chưa nhận được bất cứ sự phản hồi trực tiếp nào từ những nhà sản xuất tại Mĩ về vấn đề này[29].
Sự việc được xem như kết thúc khi bản song ca Heartbreaker của G-Dragon và Flo Rida chính thức được phát hành. Không bao lâu sau G-Dragon được mời tham gia vào show của Flo Rida và nhận được nhiều lời khen từ rapper huyền thoại da màu này.
Đã phát hành [sửa]
Single [sửa]
- 나만바라봐 Part 2 (2008)
Album [sửa]
- Heartbreaker (2009)
- GD & T.O.P (2010)
- One of a kind (1st mini album) (2012)
Giải thưởng [sửa]
| Năm | Giải thưởng |
|---|---|
| 2009 |
|
Tham khảo [sửa]
- ^ “방시혁 “빅뱅 권지용 모독하지 말자. 엄청난 재능의 소유자”” (bằng tiếng Triều Tiên). Newsen. 8 tháng 1 năm 2010. Truy cập 01-31-2010.
- ^ a b c d “新스타고백 지드래곤③연습생시절, 1년간 죽어라 청소만”. Yahoo Korean News. Truy cập 31 tháng 1, 2010.
- ^ a b (tiếng Triều Tiên) “'준비된 그룹' 빅뱅, 대폭발 예고”. Thể thao Triều Tiên. 7 tháng 7 năm 2006. Truy cập 15 tháng 1, 2010.
- ^ a b “Big Bang”. KBS World. Truy cập 15 tháng 1, 2010.
- ^ (tiếng Triều Tiên) “Album Sales For The Month of tháng 2 năm 2007”. Hiệp hội công nghiệp Hàn Quốc (bằng Korean). Truy cập ngày 15 tháng 2 năm 2008.
- ^ Arirang TV. On Location: Big Bang's Showcase & First Fan Meeting. Truy cập 21 tháng 2 năm 2008.
- ^ (tiếng Triều Tiên) “빅뱅 쥬크온차트 8주 연속 1위 기염, JOO도 2주만에 7위 진입”. Newsen (bằng tiếng Triều Tiên). 21 tháng 1 năm 2008. Truy cập 1 tháng 2 năm 2008.
- ^ “Big Bang's 'Day by Day' Sweeps J-Pop Charts for Four Weeks”. KBS Global. 8 tháng 9 năm 2008. Đã bỏ qua tham số không rõ
|acc//www.koreatimes.co.kr/www/news/=(trợ giúp) - ^ (tiếng Triều Tiên) 2008년을 빛낸 가요 작곡가 '8+1'인은? 스타뉴스. 18 tháng 11 năm 2008. Truy cập 2 tháng 10 năm 2009
- ^ (tiếng Triều Tiên) 지드래곤, 2008 'A-어워즈' 스타일 부문 수상 연합뉴스. 10 tháng 12 năm 2008. Truy cập 2 tháng 10 năm 2009.
- ^ (tiếng Triều Tiên) “'빅뱅' 지드래곤, 日그룹 '윈즈' 앨범 참여..뮤비도 출연”. Thể thao Triều Tiên. 8 tháng 5 năm 2009. Truy cập 12 tháng 1, 2010.
- ^ (tiếng Trung) “G-Dragon与W-inds合作日本同台演出获好评”. Sina. 19 tháng 5 năm 2009. Truy cập 12 tháng 1, 2010.
- ^ (tiếng Anh) Kim, Lynn. G-Dragon Vol. 1 - Heartbreaker Yes Asia. Truy cập 2 tháng 1 năm 2010.
- ^ (tiếng Anh) G-Dragon nhóm Big Bang phát hành album solo KBS World. Truy cập 2 tháng 1 năm 2010.
- ^ (tiếng Anh) Seo Tai-ji Tops Album Sales. The Korea Times 18 tháng 9 năm 2009. Truy cập 29 tháng 9 năm 2009.
- ^ Han Sang, Hee (22 tháng 11 năm 2009). “Music Awards Has Fresh Yet Disappointing Start”. Thời báo Hàn Quốc. Truy cập 13 tháng 12 năm 2009.
- ^ Han Sang, Hee (28 tháng 10 năm 2009). “G-Dragon Shines on First Album”. Thời báo Hàn Quốc. Truy cập 5 tháng 11 năm 2009.
- ^ (tiếng Anh) Kim, Lynn. G-Dragon chinh phục bảng xếp hạng âm nhạc Hàn Quốc Kinh tế châu Á. 7 tháng 9 năm 2009. Truy cập 29 tháng 9 năm 2009.
- ^ a b “Singer G-Dragon Faces Obscenity Probe”. The Chosun Ilbo. 11 tháng 12 năm 2009. Truy cập 27 tháng 12 năm 2009.
- ^ Han Sang, Hee (13 tháng 10 năm 2009). “G-Dragon to Hold 1st Solo Concert”. The Korea Times. Truy cập 27 tháng 12 năm 2009.
- ^ “G-Dragon’s Suggestive Concert Creates Stir”. The Korea Times. 8 tháng 12 năm 2009. Truy cập 27 tháng 12 năm 2009.
- ^ Hicap, Jonathan M. (19 tháng 12 năm 2009). “Fans defend G-Dragon against concert controversy” (bằng tiếng Anh). Manila Bulletin Publishing Corporation. Truy cập tháng 1, 15, 2010.
- ^ Hicap, Jonathan M. (8 tháng 1 năm 2010). “G-Dragon fans file petition over concert fiasco”. Manila Bulletin Publishing Corporation. Truy cập 15 tháng 1, 2010.
- ^ (tiếng Triều Tiên) YG Bounce. YG Entertainment 26 tháng 8 năm 2008. Truy cập 2 tháng 10 năm 2009
- ^ (tiếng Anh) YG Hits Sony Over Plagiarism Allegations. The Korea Times. 25 tháng 9 năm 2009. Truy cập 29 tháng 9 năm 2009.
- ^ Lee Sung, Moo (28 tháng 10 năm 2009). “Is Plagiarism a New Genre?”. The Korea Times. Truy cập 7 tháng 11 năm 2009.
- ^ (tiếng Triều Tiên) 지드래곤, '표절이라 단정하기엔 섣부른 판단!'. 한경닷컴. 21 tháng 8 năm 2009. Truy cập 2 tháng 10 năm 2009
- ^ (tiếng Triều Tiên) 경고장 발송’ 소니, 오늘(21일) 지드래곤 표절관련 입장발표. Newsen. 21 tháng 9 năm 2009. Truy cập 21 tháng 9 năm 2009
- ^ (tiếng Triều Tiên) “표절 경고장 불쾌”…양현석 뿔났다. donga.com. 25 tháng 9 năm 2009. Truy cập 2 tháng 10 năm 2009
- Hwang Sehyeon http://www.twitter.com/lwmoo
- Se-gyeong http://www.twitter.com/lvvmeee
Liên kết bên ngoài [sửa]
|
|||||||||||||||||||||||||||||