AKB48

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
AKB48
Ax10akb18.jpg
AKB48 biểu diễn ở J!-ENT LIVE: AKB48 năm 2010.
Thông tin nghệ sĩ
Nguyên quán Akihabara, Tokyo, Nhật Bản
Thể loại Pop
Năm 2005 đến nay
Hãng đĩa AKS, DefStar Records, King Records/You! Be Cool
Hợp tác SKE48
SDN48
NMB48
HKT48
JKT48 (Jakarta)
TPE48 (Đài Bắc)
SNH48 (Thượng Hải)
Website www.%20akb48.co.jp
Thành viên hiện tại
Team A Chi tiết
Team K Chi tiết
Team B Chi tiết
Logo của nhóm

AKB48 (tiếng Nhật: エーケービー フォーティーエイト Ēkēbī Fōtīeito) là một nhóm nhạc thần tượng nữ Nhật Bản biểu diễn tại nhà hát riêng, được thành lập bởi Yasushi Akimoto và rất nổi tiếng tại Nhật Bản [1], thường được mô tả như là một hiện tượng xã hội[2]. Hiện nay, nhóm có 64 thành viên, ở độ tuổi từ 13 đến giữa độ tuổi 20 [3]. AKB48 hiện đang nắm giữ kỷ lục Guinness World Records "Nhóm nhạc Pop có số lượng thành viên đông nhất"[4]. Nhóm nhạc cũng là một trong những ban nhạc có doanh thu cao nhất trên thế giới, với doanh thu kỷ lục bán đĩa năm 2011 là trên 211 triệu USD chỉ riêng ở Nhật Bản.[5]

12 đĩa đơn mới nhất của nhóm liên tiếp đứng đầu bảng xếp hạng Đĩa đơn hàng tuần của Oricon. Trong năm 2010, ca khúc "Beginner" và "Heavy Rotation" xếp hạng đầu tiên và thứ hai trong danh sách đĩa đơn bán chạy nhất của Nhật Bản trong năm,[6] trong khi vào năm 2011, 5 đĩa đơn của AKB48 chiếm đóng cả 5 vị trí đầu của Bảng xếp hạng đĩa đơn Oricon hàng năm [7]. Nhóm nhạc đã bán được hơn 10.000.000 bản ghi âm[8], AKB48 trở thành nhóm nhạc nữ châu á đầu tiên với 27 triệu đĩa CD bán ra [9], và theo bảng xếp hạng của Oricon, AKB48 giữ kỷ lục cho đĩa đơn bán ra tại Nhật Bản bởi một nhóm nhạc nữ.

Không giống như các nhóm nhạc thần tượng khác ở Nhật Bản, AKB48 với tiêu chí "Thần tượng mà bạn có thể gặp mặt" ("Idol you can meet") và có nhà hát hát riêng của họ ở Akihabara (một quận ở Tokyo), nơi họ biểu diễn trong tuần, và nhiều suất diễn vào thứ Bảychủ nhật. Nhà hát này được đặt trên tầng 8 của tòa nhà Don Quijote.[10] Một đĩa đơn hiện tại của AKB48 chứa từ 4 đến 5 bài hát (kèm 4-5 PV [Promotional video - Phim video quảng cáo] của bài đó) nhưng chỉ bài hát chính được quảng bá trên các chương trình âm nhạc, truyền hình, quảng cáo và phim.

AKB48 được chia thành ba nhóm chính: team A, team Kteam B. Ban đầu là thế hệ thứ nhất (tuyển đợt đầu) là Team A, thế hệ thứ 2 là Team K, thế hệ thứ 3 là Team B. Nhưng sau đợt cải tổ lại nhóm vào cuối năm 2009, thành viên các team đã được trộn lại phù hợp với phong cách từng team (đội). Hiện tại trong 3 Team, còn 5 thành viên lứa đầu, thế hệ thứ 2 và thứ 3, một số thành viên thế hệ thứ 4, 5, 6, 7, 9 và 10, các thành viên mới nhất thuộc thế hệ thứ 15. Yokoyama Yui (sinh năm 1992) là đội trưởng của Team A, Oshima Yuko (sinh năm 1988) là đội trưởng của Team K, và Umeda Ayaka (sinh năm 1989) là đội trưởng của Team B.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 2005: ra mắt[sửa | sửa mã nguồn]

Tầng 8 tòa nhà Don Quijote tại Akihabara, Nhật Bản là nơi biểu diễn thường xuyên của AKB48.

Vào tháng 7 năm 2005, nhà sản xuất Akimoto Yasushi đã tổ chức một buổi thử giọng để tuyển lựa các cô gái cho một nhóm nhạc thần tượng mới biểu diễn tại một nhà hát cố định. Tuy chỉ đăng một mẩu nhỏ trên báo nhưng có đến 7.924 cô gái đăng ký, 45 người đã được thông qua các vòng thử giọng và được huấn luyện. Cuối cùng, chỉ có 24 cô gái được chọn tham gia vào nhóm.

Ngày 08 Tháng 12 2005, nhóm ra mắt tại nhà hát chỉ với 20 cô gái (4 cô gái kia vì lý do riêng hoặc vì bị loại nên đã rời nhóm), đó chính là tiền thân của Team A. Team A với 20 cô gái (thành viên nhỏ nhất sinh năm 1993) đã bắt đầu show diễn đầu tiên tại nhà hát với 16 bài hát mới toanh kéo dài khoảng 2 giờ/1 show, và show này được gọi là "Team A 1st Stage", kéo dài từ cuối năm 2005 đến giữa năm 2006.

Đầu năm 2006, một cuộc audition mới được công bố, lần tuyển lựa thành viên thế hệ thứ 2 này đã được tổ chức hợp tác với công ty viễn thông NTT DoCoMo của Nhật Bản. Đây là buổi thử giọng đầu tiên mà người nộp đơn phải gửi video thử giọng của họ bằng điện thoại di động của về hệ thống. 19 cô gái trong tổng 11.892 người nộp đơn đã được chọn để tham gia AKB48, nhưng cuối cùng chỉ có 18 cô gái tham gia vào nhóm để trở thành Team K vào tháng Tư năm 2006. Team K có thành viên nhỏ nhất lúc này là Oku Manami, 1 cô gái mang 2 dòng máu Nhật-Ý sinh năm 95 (thời điểm ấy, cô chỉ mới 10 tuổi). Team K bắt đầu cũng với K1 Stage là show làm lại từ A1 Stage. Sau khi diễn K1 vài tháng, các cô gái Team K đã chính thức có riêng stage của mình với tên gọi "Team K 2nd Stage" cũng với 16 bài hát thể hiện tinh thần Team K.

Năm 2006[sửa | sửa mã nguồn]

Vào tháng Giêng năm 2006, nhà sản xuất Akimoto cho phép Shinoda Mariko (sinh năm 1986) tham gia vào nhóm mà không cần qua thử giọng sau khi cô giành chiến thắng cuộc bỏ phiếu của người hâm mộ. Mariko đã không vượt qua được vòng tuyển lựa thế hệ đầu nhưng vì ý chí muốn vào AKB48 nên cô đã ở lại làm công việc phục vụ bàn tại quán Cafe gần nhà hát. Các fan đến tham dự show diễn của AKB48 cũng thường đến uống tại quán và ủng hộ cho cô, chính fan là người gửi thư xin cho Mariko có cơ hội thứ 2. Cô đã học thuộc lời và vũ đạo của tất cả 16 bài A1 Stage trong 4 ngày và chính thức trở thành thành viên thứ 21 của Team A (đến nay fan vẫn xem cô là thành viên duy nhất của thế hệ 1.5)

AKB48 phát hành đĩa đơn đầu tay của mình "Sakura no Hanabiratachi" vào tháng 2 năm 2006, single đứng thứ 10 trên bảng xếp hạng Oricon hàng tuần và bán được 22.011 bản trong tuần đầu tiên - đáng ngạc nhiên cho nhóm nhạc của mang nhãn indie.(nhãn hiệu độc lập, không thuộc công ty thu âm âm nhạc đình đám nào).

Ngày 01 tháng 3, AKB48 phát hành cuốn sách ảnh đầu tiên của họ, Micchaku! "AKB48" ~ Shashinshuu Vol.1 DEBUT.

Ngày 31 tháng 3, Usami Yuki - 1 thành viên của Team A đã chính thức tốt nghiệp (rời nhóm) vì lý do cá nhân. Số thành viên Team A giảm xuống còn 20.

Từ ngày 01 Tháng Tư năm 2006, Team K gồm 18 cô gái bắt đầu biểu diễn tại nhà hát sau vài tháng huấn luyện.

Ngày 07 Tháng 6, AKB48 phát hành đĩa đơn indies thứ hai của họ "Skirt, Hirari",một bài hát nằm trong show A1 và đày là bài hát đầu tiên được quảng bá trên các chương trình âm nhạc, chương trình truyền hình.

Ngày 9 tháng sáu, Uemura Ayako - thành viên Team K đã tốt nghiệp để hướng đến mục tiêu khácc ủa cô là diễn viên lồng tiếng. Team K còn lại 17 cô gái.

Vào tháng 8 năm 2006, họ đã ký một hợp đồng lớn với nhãn DefStar Records, một phần của Sony Music Entertainment. AKB48 đã phát hàng đĩa đơn đầu tiên dưới nhãn DefSTAR Records, "Aitakatta", vào ngày 25 Tháng 10 năm 2006 và đã chạm mốc vị trí thứ 12 trên bảng xếp hạng Oricon hàng tuần.

Trong tháng 10 năm 2006, một buổi thử giọng mới (tuyển thành viên thế hệ thứ ba) đã được công bố để hình thành Team B. Cuộc tuyển lựa kết thúc vào tháng Mười Hai năm 2006 với 19 cô gái nhưng công ty vẫn không tiết lộ chút thông tin nào về 19 cô gái thế hệ thứ 3.

Vào ngày 3 & 4 tháng 12 năm 2006, AKB48 đã tổ chức buổi hòa nhạc đầu tiên (AKB48 Concert) mang tên "Aitakatta ~ Hashira wa Nai ze ~ tại Nippon Seinenkan ở Sendagaya, Shinjuku.!" với sự tham gia của tất cả các cô gái 2 Team: A và K.

Vào tháng mười hai năm 2006, sự thay đổi đầu tiên đã được thực hiện với cả 3 Team; Kazumi Urano, Shiho Watanabe, và Natsumi Hirajima đã được chuyển từ Team A sang Team B với nhiệm vụ hỗ trợ cho đàn em của mình. Team B lúc này chỉ còn 13 thành viên (gây ngạc nhiên lớn cho fan vì ban đầu có đến 19 cô gái thi đậu). Với 3 thành viên được chuyển từ Team A sang, Team B đã hoàn tất đội hình với 16 thành viên. Thành viên lão làng Ayumi Orii, thuộc Team A, cũng đã tốt nghiệp liền sau đó, mặc dù cô vẫn xuất hiện trong nhóm nhỏ Crayon Friends (gồm một số thành viên thuộc AKB48) hát bài quảng cáo cho Crayon sau khi đã tốt nghiệp.

Kết thúc năm 2006 đầy biến động. số lượng thành viên của AKB48 là 49 người gồm: Team A có 16 thành viên, Team K có 17 thành viên và Team B có 16 thành viên.

Năm 2007[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 31 tháng 1, năm 2007, đĩa đơn thứ tư của AKB48 (lần thứ hai dưới DefSTAR Records) Seifuku ga Jama wo Suru đã được phát hành, đạt vị trí thứ 7 trên bảng xếp hạng Oricon. Đã có suy đoán rằng các PV và lời bài hát này là một ám chỉ đến Enjo kōsai mại dâm tuổi vị thành niên tự nguyện, mặc dù điều này chưa được xác nhận.

Ngày 03 tháng 2, cuốn sách ảnh thứ hai của AKB48 "AKB48 JUMP & CRY", mà các bức ảnh được chụp bởi Kishin Shinoyama, được phát hành.

Đĩa đơn kế tiếp của AKB48, Keibetsu Shiteita Aijō, được phát hành vào ngày 18 tháng 3, được làm về chủ đề về tệ bắt nạt và tự tử trong trường học, chủ đề này được đề cập xuyên suốt trong cả lời ca khúc và PV. Tour diễn thứ hai của AKB48, AKB48 Haru Chotto dake Zenkoku Tour ~ Madamada AKB48 Supprise! ~ bắt đầu vào ngày 10 tháng 3.

Vào tháng Tư năm 2007, team B đã được lên trang web chính thức của AKB48, mặc dù với năm thành viên ít hơn so với ban đầu được công bố. Điều này đã giảm số lượng thành viên của nhóm xuống 53-48 - lần đầu tiên kể từ khi được thành lập, số 48 trên tên nhóm được thể hiện đúng ý nghĩa của nó. Tháng sáu cùng năm, các thành viên Yu Imai, Michiru Hoshino, và Ayana Takada tốt nghiệp. Tuy nhiên, Takada vẫn xuất hiện trong PV quay cho đĩa đơn thứ sáu của nhóm, "Bingo!" được phát hành vào ngày 18 tháng 7 năm 2007.

Trong tháng mười và tháng mười một cùng năm, Watanabe Shiho và Masuyama Kayano tốt nghiệp.

Ngày 31 tháng 12, năm 2007, 44 thành viên của AKB48 xuất hiện trên 58th Kohaku Uta Gassen lần đầu tiên.

Năm 2008[sửa | sửa mã nguồn]

AKB48 phát hành album phòng thu đầu tiên của họ,Set List: Greatest Songs 2006-2007. Vào ngày 23 tháng 7, đĩa đơn "Romance, Irane" được phát hành, đạt vị trí thứ 6 trên bảng xếp hạng Oricon.

Ngày 27 Tháng Hai, 2008, AKB48 phát hành đĩa đơn thứ 10, Sakura no Hanabiratachi 2008. Tại thời điểm phát hành đĩa đơn đầu tay của mình "Sakura no Hanabiratachi", chỉ có nhóm A trong AKB48. Đĩa đơn được làm lại với 10 thành viên từ team A, cùng với 6 thành viên được chọn từ team K, và 5 thành viên được chọn từ đội B. Kế hoạch cho những khách hàng thu thập được 44 tấm áp phích của đĩa CD sẽ được mời tham dự một sự kiện đặc biệt, nhưng hành động này đã bị nghi ngờ là vi phạm luật chống độc quyền và cuối cùng đã bị hủy bỏ bởi DefStar Records [7] Vào tháng Tám năm 2008, nhóm chuyển từ DefStar Records của Sony Music Entertainment sang King Records.

Trong tháng 8 năm 2008, Ayaka Kikuchi đã bị sa thải (Cô đã đã trở lại nhóm sau cuộc tuyển chọn khác).

Ngày 22 Tháng 10 2008, đĩa đơn "Ōgoe Diamond"được phát hành với hợp đồng vừa được ký với King Records với"You, Be Cool!" dưới nhãn, và kết thúc tuần đầu phát hành với vị trí thứ ba trong bảng xếp hạng Oricon. Đó là đĩa đơn đầu tiên của AKB48 lọt vào top ba vị trí dẫn đầu bảng xếp hạng. Ngày 3 tháng 11, 2008, Rina Nakanishi, Komatani Hitomi, Ohe Tomomi, Narita Risa và Tojima Hana tốt nghiệp

Năm 2009[sửa | sửa mã nguồn]

AKB48 biểu diễn tại Triển lãm Nhật Bản (Japan Expo) 2009 tại Paris, Pháp.

Ngày 11 tháng hai, Noguchi Reina và Matsuoka Yuki, và Nozomi Kawasaki tốt nghiệp.

AKB48 phát hành đĩa đơn thứ 11 của họ "10 nen Zakura" vào ngày 04 tháng ba 2009. Đĩa đơn đạt vị trí số ba trên bảng xếp hạng Oricon trong tuần đầu tiên và cuối cùng trở thành đĩa đơn đầu tiên cho nhóm bán được hơn 100.000 bản.

Ngày 26 tháng 4, Oshima Mai và Hayano Kaoru tốt nghiệp.

Ngày 24 Tháng 5, Risa Naruse tốt nghiệp.

AKB48 Team A đã trở thành khách mời danh dự cho các hội chợ triển lãm Nhật Bản tại Paris giữa Ngày 02-Ngày 05 tháng 7, 2009, [8] và trình diễn của phiên bản tiếng Anh của "Ōgoe Diamond" lần đầu tiên.

AKB48 12 single "Namida suprise!" phát hành vào ngày 24 tháng 6, đĩa đơn bao gồm vé sự kiện handshake và một thẻ mang số thứ tự để xếp vị trí. "Namida suprise!" bán được 104.180 bản trong tuần đầu tiên phát hành. Đĩa đơn thứ 13 của họ "Iiwake Maybe" được phát hành vào ngày 26 tháng 8 năm 2009.

AKB48 đã có một Debut Concert tại Webster Hall, New York vào ngày 27 Tháng 9 năm 2009. [9]

Trong tháng mười năm 2009, ba đĩa đơn 10nen Zakura, Namida suprise! và Iiwake Maybe đã nhận được chứng nhận vàng của Hiệp hội Công nghiệp ghi âm của Nhật Bản cùng một lúc cho mỗi lô hàng 100.000 bản vào tháng Chín. Đĩa thứ 14 của họ River được phát hành ngày 21 tháng 10, 2009, và đạt hạng 1 trên bảng xếp hạng Oricon khi ra mắt.

Năm 2010[sửa | sửa mã nguồn]

AKB48, 2010

AKB48 phát hành 15 đĩa đơn của họ, "Sakura no Shiori ", ngày 17 tháng hai năm 2010. Đĩa đơn đứng đầu bảng xếp hạng Oricon và bán được hơn 300.000 bản trong tuần đầu tiên, đó là kỷ lục tốt nhất trong bảy năm qua của nữ nghệ sĩ Nhật Bản. Đĩa đơn thứ 16 duy nhất của họ, "Ponytail to Chouchou ", phát hành vào ngày 26, 2010, bán hơn 400.000 bản trong ngày đầu tiên, và hơn 513.000 bản trong tuần đầu tiên, làm cho nó bán lớn nhất của AKB48 duy nhất trong tuần đầu tiên. Ngày 27 tháng 4 năm 2010, nó đã được thông báo rằng AKB48 sẽ được tham dự và biểu diễn tại Hoa Hoa tại Anime Expo, hội nghị anime lớn nhất của quốc gia, là khách mời chính thức của danh dự. AKB48 thực hiện tại một buổi hòa nhạc vào ngày 01 tháng bảy năm 2010, tại Nhà hát Nokia.

Tại buổi hòa nhạc của AKB48 tại các quốc gia Yoyogi tập thể dục vào ngày chủ nhật trong tháng 7 năm 2010, nó đã được thông báo rằng đội K thành viên Erena Ono sẽ được tốt nghiệp từ AKB48 để nghiên cứu hành động ở nước ngoài. Erena tốt nghiệp từ AKB48 ngày 27 tháng chín năm 2010 trong một K Nhóm nhà hát thực hiện. Ngày 23 Tháng 10, ban nhạc đại diện cho Nhật Bản và biểu diễn tại Liên hoan Asia Song 7, tổ chức bởi Quỹ Quốc tế Văn hóa giao dịch Hàn Quốc, tại Sân vận động Olympic Seoul. Ngày 27 Tháng 10, 2010 AKB48 đĩa thứ 18 của duy nhất của nhóm " Beginner "được phát hành. Trong tuần đầu tiên, đĩa đơn thứ 18 đã bán được 826.989 bản sao các doanh thu tuần đầu tiên cao nhất cho AKB48, cũng như doanh thu tuần đầu tiên cao nhất bao giờ hết cho một nhóm nhạc thần tượng nữ duy nhất. Tính đến tháng 2 năm 2011, đĩa đơn đã bán được hơn 1.010.000 bản. Vào cuối tháng Mười Mayu Watanabe xuất hiện trên trang bìa của số ra tháng UP tạp chí cậu bé cùng với Airi Suzuki °C-ute. Đó là hợp đồng hợp tác đầu tiên giữa Hello!Project và AKB48. Trong tháng 11 năm 2010, AKB48 thực hiện tại Nga lần đầu tiên. Một nhóm 12 thành viên đã đưa ra một buổi hòa nhạc vào ngày 20 tháng 11 tại Liên hoan Văn hóa Nhạc Pop Nhật Bản diễn ra tại Moscow.Cũng trong 2010, AKB48 thực hiện trong đêm Nhật Bản mát ở Singapore như là một phần châu Á của Liên hoan Anime X. Tiếp theo là một buổi biểu diễn thứ 2 cũng tại Singapore Toy Singapore & Comics Công ước.

Năm 2011[sửa | sửa mã nguồn]

Single đầu tiên của năm, có tên là "Sakura no Ki ni Naro ", được phát hành vào ngày 16 tháng 2. Khi ngày đầu tiên phát hành, AKB48 đã bán được 655.000 bản sao duy nhất của họ, đánh bại kỷ lục trước đó của họ (568.000 bản sao của "Beginner ").duy nhất bán được 826.989 bản trong tuần đầu tiên, kỷ lục cao nhất của AKB48

Trong tháng hai, nó đã được công bố Yūki Kanazawa và Manami Oku sẽ được tốt nghiệp từ nhóm.

Album studio thứ ba của họ, có tên là Koko ni Ita Koto (ここに いたこと?), được công bố vào ngày 21 tháng 2, 2011.Đây là album đầu tiên ban đầu của họ (như trái ngược với bộ sưu tập đĩa đơn phát hành trước đó), và nó chứa 11 mới bài hát mà không bao giờ được phát hành trước đó, bao gồm cả ca khúc chủ đề ni Koko Ita Koto.Nó đã được dự kiến sẽ được phát hành tại Nhật Bản vào ngày 06 Tháng Tư 2011.

Ngày 12 Tháng Ba năm 2011 cũng được thông báo trên blog của họ Nhà hát AKB sẽ đóng cửa do trận động đất Tohoku năm 2011 và trận sóng thần, và tất cả các sự kiện công cộng bị hủy bỏ cho đến khi có thông báo tiếp theo. Hai ngày sau, nó đã được công bố trên blog chính thức của họ rằng buổi hòa nhạc của họ Takamina ni tsuite ikimasu (たかみなについて行きます, thắp sáng. "(Chúng tôi) sẽ theo Takamina"), dự kiến sẽ được tổ chức vào ngày 25-27 tại Yokohama Arena, sẽ được hủy bỏ. Tài khoản ngân hàng đã được mở để nâng cao đóng góp cứu trợ động đất và sóng thần, như là một phần của dự án tên là "Dareka no Tame ni"誰かのため thắp sáng "vì lợi ích của một ai đó ". Theo dự án này, họ đã sử dụng Yokohama Arena cho sự kiện từ thiện 2 ngày của họ bắt đầu vào ngày 26 Tháng Ba năm 2011 thay vì. 12 thành viên chính của họ tham dự Liên hoan phim quốc tế Okinawa trong cùng một ngày với cùng mục đích. Ba ngày sau, nó đã được thông báo rằng ¥ 500 triệu sẽ được tặng AKB48 và nhóm chị em của họ: SKE48, SDN48 và NMB48, và sản xuất của họ Yasushi Akimoto các tài khoản ngân hàng. Cùng ngày, hoãn việc phát hành album mới của họ, Koko ni Ita Koto (ここにいたこと) được công bố. [59] Một phần của số tiền thu được từ việc bán album sẽ được quyên góp cho các nạn nhân này thảm họa. [59] Nó cũng được thông báo rằng nhóm sẽ tổ chức một senbatsu cuộc bầu cử để xác định các thành viên tham gia cho 22 đơn của họ.Ngày 1 tháng 4, họ cũng phát hành một single "Dareka không ni Tame (Những gì tôi có thể làm cho một người nào đó) "(誰かのために-gì tôi có thể làm cho một ai đó -?? ?.) thông qua các trang web Recochoku như là một tải về kỹ thuật số, và sẽ tặng toàn bộ lợi nhuận cho trận động đất và cứu trợ sóng thần Dareka không ni Tame được ban đầu được ghi lại trên một sống album phát hành trong năm 2007.

Ngày 08 Tháng Tư, Manami Oku tốt nghiệp sau khi thực hiện ở giai đoạn B đội trong cùng một ngày.

Ngày 01 Tháng 5, nhóm chị em mới của AKB48 có tên là HKT48 được công bố. [60] Có trụ sở tại Fukuoka ở Kyushu, và nhà hát của họ sẽ được thành lập vào Hawks Town Mall của phường Chuo của Fukuoka.

AKB48 mở cửa hàng chính thức của họ tại Singapore, 2011

Ngày 03 tháng 5, The Straits Times báo cáo rằng đầu tiên của AKB48 nhà hát ở nước ngoài sẽ được mở tại Singapore. Nó sẽ được dựa * scape Công viên Thanh niên, và 16 thành viên của AKB48 và nhóm chị em sẽ được thực hiện buổi hòa nhạc có hai ngày trong một tháng, với hai buổi biểu diễn mỗi ngày.Ngoài nhà hát, có cũng sẽ được một AKB48 chính thức các cửa hàng nơi người hâm mộ có thể mua chính thức AKB48 hàng hóa, và đầu tiên trên thế giới cafe AKB48 mà Nhật Bản phản ứng tổng hợp thực phẩm và sa mạc sẽ được phục vụ.

AKB48 blog của nhân viên công bố, các học viên Nâu Yamaguchi và Sara Ushikobu sẽ rời khỏi nhóm vì lý do không được tiết lộ. Họ sẽ thực hiện sự kiện cuối cùng của họ như là các thành viên vào ngày 19 tháng 6.

AKB48 phát hành album single 21 của mình mang tên "Everyday, Kachūsha "vào tháng 25, 2011.Vào ngày phát hành 942.475 bản được bán ra và 1.333.969 bản trong tuần đầu tiên làm cho nó tuần đầu tiên doanh số kỷ lục cao nhất duy nhất tại Nhật Bản ngày đó.Sau đó, ngày 07 tháng 6, AKB48 đã công bố một nhóm mới có tiêu đề "Team 4" trước buổi hòa nhạc tour du lịch trên toàn quốc của họ tại Nhật Bản.Nhóm thực tập sinh được thành lập trong mười thành viên, với sáu thành viên trở lên để được thêm vào sau đó để hoàn thành nhóm 16 thành viên.Điều này cũng đánh dấu 'Nhóm Kenkyuusei' mất 'Team' từ tên của họ.

Ngày 11 tháng 6 năm 2011, được công bố tại một sự kiện bắt tay Aimi Eguchi, một cô gái được cho là đã thử giọng cho NMB48, sẽ được tham gia AKB48 là một thực tập sinh. Sau đó nó được tiết lộ rằng Aimi Eguchi không phải là một người thực sự, và đã được tạo ra để thúc đẩy các sản phẩm Glico Ice no mi.

Oricon công bố vào ngày 22 tháng 6 2011 rằng AKB48 có album bán ra cao nhất nửa đầu năm 2011 trong bảng xếp hạng doanh số bán hàng của họ.Họ đã bán hai triệu-bán đĩa đơn hàng Every day, Kachūsha và "Sakura no Ki ni Naro ", xếp hạng những đĩa đơn bán chạy nhất và thứ hai tốt nhất tương ứng.Trong giai đoạn khảo sát từ 27 tháng 12 2010 và 20 2011 tháng sáu, AKB48 thu hút 6660000000 Yên trong tổng doanh thu của tất cả các hàng hóa của họ.

Trong một thông báo được thực hiện trên 28 Tháng Sáu, 2011, AKB48 của nhà sản xuất Yasushi Akimoto tiết lộ rằng ông sẽ được tạo ra một nhóm để trở thành "chính thức đối thủ" của AKB48. Nhóm sẽ được gọi là Nogizaka46 (乃木坂46 ?) và sẽ ra mắt với khoảng 20 thành viên. Yasushi Akimoto tiết lộ rằng ông đã hợp tác lên với Sony Music Nhật Bản để sản xuất này nhóm mới, có buổi thử giọng cho các thành viên sẽ bắt đầu sau năm nay.

Atsuko Maeda

AKB48 phát hành đĩa đơn thứ 22, Flying Get (フライング Furaingugetto ?), ngày 24 tháng 8, 2011.Flying get bán tổng cộng 1.025.952 bản trong ngày đầu tiên,và đã bán được 1.354.000 bản trong tuần đầu tiên. Flying Get là đĩa đơn duy nhất của Team 4 đến bán hơn một triệu bản trong tuần đầu tiên của nó.

Hai thực tập sinh, Abe Maria và Iriyama Anna, được thêm vào Team 4 thành viên chính thức ngày 23 tháng 7 năm 2011.Đồng thời, đội trưởng của Team 4 cũng tiết lộ là thành viên Oba Mina.

AKB48 phát hành chính đĩa đơn thứ 23 (25 tổng thể), Kaze wa Fuiteiru vào ngày 26 tháng mười 2011. Đó là đĩa đơn duy nhất bán được 1.045.937 bản vào ngày đầu tiên phát hành và thiết lập một kỷ lục mới cho doanh số bán hàng ngày đầu tiên của AKB48. Họ sau đó phát hành đĩa đơn thứ 24 Ue Kara Mariko vào ngày 07 Tháng 12 năm 2011. Single này đã bán được 1.199.000 bản trong tuần đầu tiên sau khi phát hành.

Đối với năm 2011, AKB48 đứng đầu 7 của 16 bảng xếp hạng Oricon của.Những bảng xếp hạng bao gồm: Tổng doanh số bán hàng của một nghệ sĩ, bản sao được bán cho một, doanh số bán hàng duy nhất Tổng số một, doanh số bán hàng duy nhất Tổng số bởi một nghệ sĩ (single), bản được bán cho một đĩa nhạc Blu-ray, Tổng doanh số cho một đĩa Blu-ray âm nhạc và các Tổng doanh số của một nghệ sĩ (đối với đĩa Blu-ray).Ngoài ra, nó cũng được thông báo rằng nhóm đã phá vỡ tất cả các hồ sơ thời gian cho hầu hết những đĩa đơn bán hơn 1 triệu bản trong một năm, đĩa đơn bán chạy nhất bởi một nhóm phụ nữ và các nhóm thu nhập cao nhất nữ AKB48 đã giành 53 giải thưởng Japan Record cho bài hát của họ Flying Get.

Năm 2012[sửa | sửa mã nguồn]

AKB48 tại J!-ENT LIVE, 2012

AKB48 sẽ nhận được đầu tiên series anime truyền hình của họ.anime này được đạo diễn bởi Yoshimasa Hiraike, trong khi nó đang lên kế hoạch và giám sát bởi nhà sản xuất AKB48 Yasushi Akimoto.Các nhóm sẽ phát hành single 25 của họ, "GIVE ME FIVE!", ngày 15 tháng 2, 2012.

Ngày 04 tháng 02 năm 2012, Hirajima Natsumi và Yonezawa Rumi có buổi gặp gỡ fan lần cuối cùng tại Handshake event trước khi rời nhóm do trước đó đã dính phải scandal có bạn trai. Team B và team K mất đi hai thành viên kì cựu (original member) Ngày 25 tháng 03 năm 2012, tại Saitama Super Arena Concert, thành viên kì cựu và là Ace của AKB48 - Maeda Atsuko - đã thông báo cô sẽ tốt nghiệp trong thời gian sắp tới (dự đoán là trong Tokyo Dome Concert). Cũng tại Saitama Super Arena Concert, Matsui Jurina (SKE48) và Watanabe Miyuki (NMB48) đã được thông báo sẽ chuyển sang làm thành viên trong một thời gian của AKB48 team K và team B.

Ngày 18 tháng 06 năm 2012, thành viên của team A Sashihara Rino được chuyển sang nhóm nhạc chị em của AKB48 là HKT48 vì vướng phải scandal về bạn trai cũ.

Discography[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: AKB48 discography

Single[sửa | sửa mã nguồn]

Năm # Tên Ghi chú Sơ đồ vị trí Số bán Oricon [11]
Oricon
Weekly
Singles
Chart
[11]
Billboard Nhật Bản
Hot
100
*
[12]
RIAJ
Digital
Track
Chart
*
[13]
Tuần
đầu
Tất cả***
2006 1 "Sakura no Hanabiratachi" Independently released 10 22.011 46,000
2 "Skirt, Hirari" 13 13.349 20,000
1 "Aitakatta" Debut single on DefStar Records/AKBingo! theme song 12 32** 17.481 55,000
2007 2 "Seifuku ga Jama o Suru" 7 16.866 21,000
3 "Keibetsu Shiteita Aijō" 8 20.323 22,000
4 "Bingo!" 6 21.830 25,000
5 "Boku no Taiyō" Used as an opening theme in Deltora Quest 6 25.946 28,000
6 "Yūhi o Miteiru ka?" 10 15.370 18,000
2008 7 "Romance, Irane" 6 22 19.303 23,000
8 "Sakura no Hanabiratachi 2008" Major label re-recording/re-release 10 26 22.112 25,000
9 "Baby! Baby! Baby!" Digital single x
10 "Ōgoe Diamond" First single on King Records 3 13 51** 48.258 96,000
2009 11 "10nen Sakura" (Nhật: 10年桜 Jūnen Zakura?) 3 13 66.226 124,000
12 "Namida Surprise!" 2 5 28 104.180 168,000
13 "Iiwake Maybe" 2 2 11 90.774 145,000
14 "River" 1 2 17 178.579 260,000
2010 15 "Sakura no Shiori" 1 1 15 317.828 404,000
16 "Ponytail to Shushu" 1 1 4 513.453 740,000
17 "Heavy Rotation" RIAJ number 1 for two weeks 1 1 1 527.336 868,000
18 "Beginner" 1 1 2 826.989 1.039.000
19 "Chance no Junban" 1 1 12 596.769 694,000
2011 20 "Sakura no Ki ni Narō" 1 1 3 942.479 1.081.000
"Dareka no Tame ni (What Can I Do for Someone?)" Digital charity single 17 2
21 "Everyday, Katyusha" Japan Hot 100 number 1 for two weeks 1 1 1 1.333.969 1.607.000
22 "Flying Get" RIAJ number 1 for three weeks 1 1 1 1.354.492 1.620.000
23 "Kaze wa Fuiteiru" RIAJ number 1 for three weeks 1 1 1 1.300.482 1.457.000
24 "Ue kara Mariko" 1 1 3 1.198.864 1.304.000
2012 25 "Give Me Five!" RIAJ number 1 for two weeks 1 1 1 1.287.217 1.434.000
26 "Manatsu no Sounds Good!" 1 1 2 1.616.795 1.815.000
27 "Gingham Check" 1 1 1.181.966 1.314.000
28 "Uza" 1 59 1.128.696 1.256.000
29 "Eien Pressure" 1 1 1 1.073.499 1.206.869
2013 30 "So Long!" 1 1 1.035.986 1.130.151
31 "Sayonara Crawl" Election single for "Koi suru Fortune Cookie"[14] 1 1 1.762.873 1.945.645
32 "Koi Suru Fortune Cookie" 1 1 1.330.432
33 "Heart Electric" 1 1 1,020,800 1,260,792
34 "Suzukake no Ki no Michi de 'Kimi no Hohoemi o Yume ni Miru' to Itte Shimattara Bokutachi no Kankei wa Dō Kawatte Shimau no ka, Bokunari ni Nan-nichi ka Kangaeta Ue de no Yaya Kihazukashii Ketsuron no Yō na Mono" Lineup determined by rock-paper-scissors tournament.[15] 1 1 916,912 1,033,336
2014 35 "Mae shika mukanē"

* Billboard Japan Hot 100 is published since January 2008, RIAJ Digital Track Chart was established in April 2009 and cancelled in July 2012.
** charted in 2010
*** These are unofficial figures obtained by adding together Oricon sales numbers for different periods of time when the single charted on Oricon.
**** Contained a voting card for AKB48 general elections

Studio albums[sửa | sửa mã nguồn]

Year Album information Oricon
Weekly
Albums
Chart
[11]
Oricon
sales
[11]
Certification
(RIAJ)
2008 Set List: Greatest Songs 2006–2007 (Nhật: SET LIST~グレイテストソングス 2006-2007~?)
  • Phát hành: 1 tháng 11, 2008
  • Re-released on 14 tháng 7, 2010 as Set List: Greatest Songs Kanzenban
  • Nhãn đĩa: DefStar Records (DFCL-1429/30 (Limited), DFCL-1431 (Regular), DFCL-1653 (Kanzen)*)
  • Định dạng:: CD, Tải nhạc số
29
2*
54,000
164,000*
Platinum (250,000+)[16]
2010 Kamikyokutachi (Nhật: 神曲たち? "Masterpieces") 1 571,000 Double Platinum[17]
2011 Koko ni Ita Koto (Nhật: ここにいたこと? "Having Been Here")
  • Phát hành: 8 tháng 6, 2011
  • Nhãn đĩa: King Records (KIZC-90117/8 (Limited), KIZC-117/8 (Regular), NKCD-6546 (Theater))
  • Định dạng:: CD, Tải nhạc số
1 878,000 Million (1.000.000+)[16]
2012 1830m 1 1.030.000 Million (1.000.000+)[16]
2014 Tsugi no Ashiato (Nhật: 次の足跡? "The next footsteps")

PV collections[sửa | sửa mã nguồn]

Tiêu đề Ngày phát hành Tất cả
Nogashita Sakanatachi ~Single Video Collection~ Kanzen Seisan Genteiban 14 tháng 7, 2010 86.372
AKB ga Ippai ~The Best Music Video~ (Nhật: AKBがいっぱい ~ザ・ベスト・ミュージックビデオ~?) 24 tháng 6, 2011 524.908

Các sub-unit cho đĩa đơn[sửa | sửa mã nguồn]

  • Under Girls (アンダーガールズ?)
  • Theater Girls (シアターガールズ?)
  • Team PB (チーム PB?): đơn vị hợp tác đặc biệt của AKB48, Shueisha và tuần Playboy
  • Team YJ (チーム YJ?): đơn vị hợp tác đặc biệt của AKB48, Shueisha và tuần Young Jump
  • Yasai Sisters (野菜 シスターズ?): đơn vị phối hợp đặc biệtcủa AKB48 và Công ty Kagome
  • MINT: sub-unit thời vụ được lập khi phát hành đĩa đơn thứ 18.

Các sub-unit chính thức[sửa | sửa mã nguồn]

AKB48 20090703 Japan Expo 50.jpg

No3b (ノース リーブス)[sửa | sửa mã nguồn]

  • Kojima Haruna (team B)
  • Takahashi Minami (team A)
  • Minegishi Minami (team 4)

Watarirouka Hashiritai (渡り廊下 走り 隊)/ Watarirouka Hashiritai 7 (渡り廊下 走り 隊 7)[sửa | sửa mã nguồn]

  • Oota Aika (HKT48 Team H)
  • Nakagawa Haruka (JKT48/ Team Taikai)
  • Watanabe Mayu (team A)
  • Kikuchi Ayaka (team A)
  • Iwasa Misaki (team B) (Watarirouka Hashiritai 7)
  • Komori Mika (team B) (Watarirouka Hashiritai 7)

French Kiss (フレンチ キス)[sửa | sửa mã nguồn]

  • Kashiwagi Yuki (team B)
  • Takajo Aki (JKT48/ Team Taikai)
  • Kuramochi Asuka (team K)

Not yet[sửa | sửa mã nguồn]

  • Oshima Yuko (Oshima Team K)
  • Kitahara Rie (Oshima Team K/ SKE48)
  • Sashihara Rino (HKT48 Team H)
  • Yokoyama Yui (Yokoyama Team A)

DiVA[sửa | sửa mã nguồn]

  • Akimoto Sayaka (team K)
  • Umeda Ayaka (team B)
  • Masuda Yuka (team K)(đã tốt nghiệp)
  • Miyazawa Sae (SNH48/ Team Taikai)

Đơn vị dẫn xuất[sửa | sửa mã nguồn]

  • Honegumi từ AKB48 (ほ ね 組 từ AKB48?)
  • ICE từ AKB48
  • Crayon Friends từ AKB48 (クレヨンフレンズ từ AKB48?): đơn vị hợp tác đặc biệt của AKB48 và Crayon Shin-chan
  • Okashina Sisters (お菓子 な シスターズ?)
  • AKB Idoling! (AKB アイドリング !!!?): đơn vị hợp tác đặc biệt của AKB48 và Idoling!
  • AKB Bảng Tennis Club (AKB 卓 球 部?)
  • Kỷ niệm 75 Yomiuri Giants Foundation hỗ trợ đơn vị (読 売 巨人 军 创立 75 周年 応 援 队?): đơn vị hợp tác đặc biệt của AKB48 và Yomiuri Giants
  • Natto Angel (ナットウエンジェル?)
  • Queen & Elizabeth: sub-unit được lập đê hát bài hát chính của Kaimen Rider W
  • Team Dragon của AKB48 (チーム ドラゴン từ AKB48?): sub-unit được lập để hát bài hát chính cho bộ phim Dragon Ball
  • AKB Bảng Tennis Club 2010 (AKB 卓 球 部 năm 2010?)
  • Natto Angel Z (ナットウエンジェル Z?)
  • Miniskirt (ミニスカート?): đơn vị hợp tác đặc biệt của AKB48 và Takara Tomy
  • AKB48 Kaspersky Viện (AKB48 カスペルスキー 研究所?): đơn vị hợp tác đặc biệt của AKB48 và Kaspersky Lab
  • Team Kishin từ AKB48: đơn vị hợp tác đặc biệt của AKB48 và Kishin Shinoyama
  • Team Z: đơn vị hợp tác đặc biệt của AKB48 và Kyoraku Sangyo của "Pachinko Zenigata Heiji"

Sub-groups[sửa | sửa mã nguồn]

Group Tổng số bán
Watarirouka Hashiritai 600.542
Not Yet 659.510
No Sleeves 411.274
Team Dragon from AKB48 140.000
French Kiss 475.000
Queen & Elizabeth 32.000
Chocolove from AKB48 25.000

Thành viên chính thức (thời điểm năm 2013)[sửa | sửa mã nguồn]

Team A[sửa | sửa mã nguồn]

Trưởng nhóm là Yokoyama Yui

Màu của nhóm là

Tên phiên âm Kanji Thế hệ Sinh nhật Nơi sinh Ghi chú
Izuta Rina 伊豆田 莉奈 10 26.11.1995 Saitama
Iriyama Anna 入山 杏奈 10 03.12.1995 Chiba
Iwata Karen 岩田 華怜 12 13.05.1998 Miyagi
Oshima Ryoka 大島 涼花 13 21.10.1998 Kanagawa
Kawaei Rina 川栄 李奈 11 12.02.1995 Kanagawa
Kikuchi Ayaka 菊地 あやか 7 30.06.1993 Tokyo là thành viên từ thế hệ 3 (Team B đầu tiên)

nhưng rời nhóm và quay trở lại vào thế hệ thứ 7

Kodama Haruka 兒玉 遥 19.09.1996 Fukuoka Đồng thời là thành viên của HKT48 Team H
Kobayashi Marina 小林 茉里奈 10 24.02.1996 Tokyo
Sasaki Yukari 佐々木 優佳里 12 28.08.1995 Saitama
Sato Sumire 佐藤 すみれ 7 20.11.1993 Saitama
Suzuki Mariya 鈴木 まりや 7 29.04.1991 Saitama đồng thời là thành viên

của SNH48

Takahashi Juri 高橋 朱里 12 03.10.1997 Ibaraki
Takahashi Minami 高橋 みなみ 1 08.04.1991 Tokyo Trưởng nhóm của PJ48 nói chung
Tano Yuka 田野 優花 12 07.03.1997 Tokyo
Nakamata Shiori 仲俣 汐里 10 25.07.1992 Tokyo
Matsui Sakiko 松井 咲子 7 10.12.1990 Saitama
Morikawa Ayaka 森川 彩香 11 24.03.1996 Saitama
Yagura Fuuko 矢倉 楓子 24.02.1997 Osaka Đồng thời là thành viên của NMB48 Team M
Yokoyama Yui 横山 由依 9 08.12.1992 Kyoto Đội trưởng team A
Watanabe Mayu 渡辺 麻友 3 26.03.1994 Saitama

Team K[sửa | sửa mã nguồn]

Trưởng nhóm là Oshima Yuko

Màu của nhóm là

Tên phiên âm Kanji Thế hệ Sinh nhật Nơi sinh Ghi chú
Abe Maria 阿部 マリア 10 29.11.1995 Kanagawa
Uchida Mayumi 内田 眞由美 5 27.12.1993 Tokyo
Oshima Yuko 大島 優子 2 17.10.1988 Tochigi Đội trưởng Team K
Kitahara Rie 北原 里英 5 24.06.1991 Aichi
Kuramochi Asuka 倉持 明日香 4 11.09.1989 Kanagawa
Kobayashi Kana 小林 香菜 2 17.05.1991 Saitama
Sato Amina 佐藤 亜美菜 4 16.10.1990 Tokyo
Shimada Haruka 島田 晴香 9 16.12.1992 Shizuoka
Suzuki Shihori 鈴木 紫帆里 11 17.02.1994 Kanagawa
Chikano Rina 近野 莉菜 5 23.04.1993 Tokyo
Nakata Chisato 中田 ちさと 4 08.10.1990 Saitama
Nagao Mariya 永尾 まりや 9 10.03.1994 Kanagawa
Hirata Rina 平田 梨奈 12 16.07.1998 Fukuoka
Fujita Nana 藤田 奈那 10 28.12.1996 Tokyo
Furuhata Nao 古畑 奈和 15.09.1996 Aichi Đồng thời là thành viên của SKE48 Team E
Maeda Ami 前田 亜美 7 01.06.1995 Tokyo
Matsui Jurina 松井 珠理奈 08.03.1997 Aichi Đồng thời là thành viên của SKE48 Team S
Miyazaki Miho 宮崎 美穂 5 30.07.1993 Tokyo
Muto Tomu 武藤 十夢 12 25.11.1994 Tokyo

Team B[sửa | sửa mã nguồn]

Trưởng nhóm là Umeda Ayaka

Màu của nhóm là

Tên phiên âm Kanji Thế hệ Sinh nhật Nơi sinh Ghi chú
Umeda Ayaka 梅田彩佳 2 03.01.1989 Fukuoka Đội trưởng Team B
Kashiwagi Yuki 柏木由紀 3 15.07.1991 Kagoshima
Shimazaki Haruka 島崎遥香 9 30.03.1994 Saitama
Kojima Haruna 小嶋陽菜 1 19.04.1988 Saitama
Fujie Reina 藤江れいな 4 01.02.1994 Chiba
Katayama Haruka 片山陽加 3 10.05.1990 Chiba
Iwasa Misaki 岩佐美咲 7 30.05.1995 Chiba
Ishida Haruka 石田晴香 5 02.12.1993 Saitama
Tanabe Miku 田名部生来 3 02.12.1992 Shiga
Oya Shizuka 大家志津香 4 28.12.1991 Fukuoka
Takajo Aki 高城亜樹 6 03.10.1991 Tokyo Đồng thời là thành viên của JKT48 Team Kaigai / Team J
Nonaka Misato 野中美郷 6 20.04.1991 Fukuoka
Oba Mina 大場美奈 9 03.04.1992 Kanagawa Đồng thời là thành viên của SKE48 Team KII
Kato Rena 加藤玲奈 8 10.07.1997 Tokyo
Nakamura Mariko 中村麻里子 9 16.12.1993 Chiba
Yamauchi Suzuran 山内鈴蘭 9 08.12.1994 Chiba
Takeuchi Miyu 竹内美宥 9 12.01.1996 Tokyo
Ichikawa Miori 市川美織 10 12.02.1994 Saitama Đồng thời là thành viên của NMB48 Team N
Omori Miyu 大森美優 12 03.09.1998 Kanagawa
Kojima Natsuki 小嶋菜月 11 08.03.1995 Chiba
Natori Wakana 名取稚菜 11 07.06.1995 Tokyo
Watanabe Miyuki 渡辺美優紀 19.09.1993 Nara Đồng thời là thành viên của NMB48 Team N

Team 4[sửa | sửa mã nguồn]

- Aigasa Moe (もえちゃん Moechan)

- Iwatate Saho (さっほー Sahhoo)

- Umeta Ayano (うめたん Umetan)

- Okada Ayaka (あやか Ayaka)

- Kitazawa Saki (さっきー Sakkii)

- Shinozaki Ayana (あやなん Ayanan)

- Takashima Yurina (ゆーりん Yuurin)

- Minegishi Minami (みいちゃん Miichan) (Đội trưởng)

- Murayama Yuiri (ゆいりー Yuirii)

- Mogi Shinobu (もぎちゃん Mogichan)

- Hashimoto Hikari (ひかり Hikari)

- Maeda Mitsuki (みつき Mitsuki)

- Nishino Miki (みきちゃん Mikichan)

- Okada Nana (なぁちゃん Naachan)

- Uchiyama Natsuki (なっきー Nakkii)

Cựu thành viên[sửa | sửa mã nguồn]

- Maeda Atsuko

- Shinoda Mariko

- Itano Tomomi

- Akimoto Sayaka

- Kasai Tomomi

- Erena Ono

- Ohori Megumi

- Oshima Mai

- Nakanishi Rina

- Oku Manami

Album[sửa | sửa mã nguồn]

Anime[sửa | sửa mã nguồn]

AKB0048

Manga[sửa | sửa mã nguồn]

AKB49 ~ Renai Kinshi Jourei ~ (AKB49 ~ 恋愛 禁止 条例 ~)

AKB0048 - Episode 0

TV / Phim truyền hình[sửa | sửa mã nguồn]

AKBingo!
Bimyo ~
Shukan AKB
AKB600sec

Các nhóm nhạc "chị em" đồng hành[sửa | sửa mã nguồn]

SKE Team

Nhà sản xuất Yakushi Akimoto của AKB48 cũng đã tạo ra những "nhóm chị em" cùng đồng hành với AKB48 cũng được dựa trên tiêu chí "thần tượng bạn có thể gặp". Những nhóm này cũng có những nhà hát riêng tại Nhật Bản và các nước châu Á, và có những đĩa đơn riêng. Những thành viên của các nhóm nhạc chị em đôi khi cũng xuất hiện trong những buổi trình diễn và đĩa đơn của AKB48 [18][19] Matsui Jurina (SKE48) và Watanabe Miyuki (NMB48), thành viên của nhóm chị em với AKB48 cũng là thành viên không thường trực của AKB48.[20]

Nhóm nhạc chị em đầu tiên của AKB48, là SKE48, được thành lập trong năm 2008 và nhà hát của họ được dựng ở Sakae, Nagoya.[21] Sau đó, SDN48, NMB48 (tại Namba, Osaka), và HKT48 (tại Fukuoka) được hình thành. Năm 2011, công bố thành lập nhóm chị em đầu tiên bên ngoài nước Nhật, JKT48, có trụ sở tại Jakarta, Indonesia. Và theo sau đó là các nhóm chị em khác ở nước ngoài: TPE48, có trụ sở tại Đài Bắc, Đài Loan, và SNH48, có trụ sở tại Thượng Hải, Trung Quốc.

Ngoài các nhóm chị em, AKB48 cũng có một "đối thủ chính thức" là Nogizaka46,[22] thành lập vào năm 2011, sau khi Sony Music Nhật Bản xây dựng tòa nhà văn phòng chính.[22]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Monica Hesse (27 tháng 3 năm 2012). “Japanese girl group AKB48 breezes through D.C. in whirlwind of cuteness”. The Washington Post. Truy cập ngày 9 tháng 4 năm 2012. 
  2. ^ “ももクロ : “音楽好き”の支持でポストAKBに急浮上? 群雄割拠のアイドルシーン” (bằng tiếng Nhật). Mainichi Shimbun Digital. 6 tháng 5 năm 2012. Truy cập ngày 18 tháng 5 năm 2012. 
  3. ^ “Japan all-girl group ad 'encourages homosexuality'”. Agence France-Presse. Yahoo! News. 20 tháng 4 năm 2012. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 4 năm 2012. Truy cập ngày 18 tháng 5 năm 2012. 
  4. ^ “AKB48 is officially the world's biggest group”. 
  5. ^ “Otaku band AKB48 morphs into $200M business”. CNET News. 7 tháng 2 năm 2012. Truy cập ngày 12 tháng 2 năm 2012. 
  6. ^ “シングル年間ランキング-ORICON STYLE ランキング” (bằng tiếng Nhật). Oricon Inc. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 7 năm 2011. Truy cập ngày 17 tháng 7 năm 2011. 
  7. ^ “【オリコン年間】AKB48、史上初の年間シングルTOP5独占 総売上162.8億円で7冠” (bằng tiếng Nhật). Oricon Inc. 19 tháng 12 năm 2011. Truy cập ngày 19 tháng 12 năm 2011. 
  8. ^ “【オリコン】史上初!AKB48が3作連続初週ミリオン 歴代シングル初週売上TOP3独占”. Oricon Style (bằng tiếng Nhật). Oricon. 1 tháng 11 năm 2011. Truy cập ngày 1 tháng 11 năm 2011. 
  9. ^ [ http://www.oricon.co.jp/news/rankmusic/2018468/full/ http://www.oricon.co.jp/news/rankmusic/2018468/full/]
  10. ^ “AKB48 Official Site|Where to see them”. 
  11. ^ a ă â b “オリコンランキング情報サービス「you大樹」”. Oricon. Truy cập ngày 9 tháng 2 năm 2011.  (subscription only)
  12. ^ “Hot 100|JAPAN Charts|Billboard JAPAN” (bằng tiếng Nhật). Billboard. 
  13. ^ “有料音楽配信チャート” (bằng tiếng Nhật). RIAJ. 
  14. ^ “AKB48 is gearing up for another DVD and Blu-Ray release in September”. sgcafe.com. Truy cập ngày 8 tháng 8 năm 2013. 
  15. ^ “AKB48公式サイト 34thシングル選抜じゃんけん大会” [AKB48 official site - 34th single rock-paper-scissors tournament selection]. AKB48 Official Site (bằng Japanese). Truy cập ngày 7 tháng 11 năm 2013.  Đã bỏ qua tham số không rõ |layurl= (trợ giúp) - shows order of rounds and winning throw
  16. ^ a ă â “2011年6月度 認定作品” (bằng tiếng Nhật). Recording Industry Association of Japan. Truy cập ngày 22 tháng 7 năm 2011. 
  17. ^ “2010年12月度 認定作品” (bằng tiếng Nhật). Recording Industry Association of Japan. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 7 năm 2011. Truy cập ngày 22 tháng 7 năm 2011. 
  18. ^ “King Records Official Site Give Me Five! profile” (bằng tiếng Nhật). King Records. Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2012. 
  19. ^ “SKE松井珠理奈、NMB渡辺美優紀がAKB48に期間限定加入”. Natalie (bằng tiếng Nhật). Natasha, Inc. 25 tháng 3 năm 2012. Truy cập ngày 25 tháng 3 năm 2012. 
  20. ^ “SKE松井珠理奈、NMB渡辺美優紀がAKB48に期間限定加入”. Natalie (bằng tiếng Nhật). Natasha, Inc. 25 tháng 3 năm 2012. Truy cập ngày 25 tháng 3 năm 2012. 
  21. ^ “SKE48 profile”. Natalie (bằng tiếng Nhật). Natasha, Inc. Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2012. 
  22. ^ a ă ““AKB48公式ライバル”乃木坂46結成 一般公募でメンバー決定” (bằng tiếng Nhật). Oricon Inc. 29 tháng 6 năm 2011. Truy cập ngày 22 tháng 8 năm 2011. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]