Xe tăng hạng nhẹ kiểu 63

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Xe tăng kiểu 63
Xe tăng loại 63
Type 63 tại Bảo tàng Quân đội Cách mạng nhân dân Trung Quốc
Loại Xe tăng bơi hạng nhẹ
Nguồn gốc  Trung Quốc
Lược sử hoạt động
Trang bị 1963–nay
Lược sử chế tạo
Nhà thiết kế Viện kĩ thuật quân sự Trung Quốc
Năm thiết kế 1960-1963
Giai đoạn sản xuất 1963-?
Số lượng chế tạo Khoảng 1550
Thông số kỹ chiến thuật
Khối lượng 19,83 tấn
Chiều dài 8,44 m
Chiều rộng 3,2 m
Chiều cao 3,12 m;2,52 m
Kíp chiến đấu 4

Xe tăng kiểu 63 (Type 63) là một xe tăng do hãng Norinco của Trung Quốc sản xuất tại nhà máy 615 Thiểm Tây từ năm 1963.Mẫu xe tăng này được viện kĩ thuật quân sự(MEI) thiết kế dựa trên xe tăng PT-76 của Liên Xô và gần giống loại PT-85 của Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên nhưng lớn hơn và có sức công phá cũng như tầm hoạt động lớn hơn PT-76.Nó còn biết đến với tên công nghiệp là WZ211.

Type 63 được coi là 1 biến thể của PT-76. Ở Việt Nam loại xe này được gọi là xe tăng K63 vì từ Type 63 dịch sang nghĩa tiếng Việt là kiểu 63, Quân đội Nhân dân Việt Nam đã gọi tắt thành K63.

Vũ khí[sửa | sửa mã nguồn]

Type 63 được trang bị 1 pháo 85mm loại 62-85TC cùng một súng máy đồng trục 7,62mm kiểu 59T (2000 viên) và súng máy 12,7mm kiểu 54 chống máy bay.

Đặc điểm cơ bản[sửa | sửa mã nguồn]

Type 63 có một động cơ diesel 12150L-2 12 xi-lanh làm mát bằng chất lỏng, có công suất 20,3 mã lực / tấn (15,1 kW / tấn). Dùng hệ thống treo là thanh xoắn. Tầm hoạt động là 370 km trên đất liền, 340 km khi chiến đấu vượt biên và 12 km khi lội sông, suối. Vận tốc của Type 63 là 64 km/h trên bộ, 12 km/h dưới nước. Kíp chiến đấu gồm 4 người (lái xe, xạ thủ, chiến sỹ nạp đạn và chỉ huy). Kiểu 63 nặng 19,83 tấn, cao khoảng 2,52 đến 3,12 m, rộng 3,2 m và dài 8,44 m.

Bọc giáp[sửa | sửa mã nguồn]

Type 63 nhìn từ thân phải

Hàn thép cán 11 mm thân (phía trước), 14 mm ở phía bên thân, 10 mm thân (phía sau), 10 mm trên.

Lịch sử hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

Type 63 vào sản xuất và phục vụ vào năm 1963. Các phiên bản sản xuất ban đầu đã nhanh chóng được thay thế bằng loại Type-63I có một động cơ mạnh mẽ hơn, mô hình động cơ 12150-L2 12 xi-lanh động cơ diesel làm mát bằng chất lỏng. Type 63 được thiết kế nhiều lần nhằm đạt được khả năng vượt mọi địa hình, lội sông - suối, có thể vượt biển với điều kiện khắc nghiệt ở tốc độ cao.Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc nhận được mẫu xe này vào năm 1963-1964. Đặc biệt, vào năm 1966 Type 63 đã đi từ bán đảo Lôi Châu, vượt eo biển Quỳnh Châu rồi đến đảo Hải Nam. Từ đó, Type 63 được thủy quân lục chiến quân giải phóng nhân dân Trung Quốc sử dụng để tuần tra bờ biển.

Type 63 được xuất khẩu sang Albania, Pakistan, Myanma, Campuchia, Sri Lanka, Bắc Triều TiênViệt Nam. Nó cũng xuất hiện trong giai đoạn cuối cùng của cuộc chiến tranh Việt Nam. Suốt chiến tranh biên giới Việt-Trung,Type-63 xuất hiện ở cả hai chiến tuyến. Kiểu 63 cho thấy tính cơ động tuyệt vời trong các địa hình khó khăn cho các xe tăng hạng nặng, nhưng áo giáp mỏng của nó đã gây ra thiệt hại và thương vong nặng nề.

Các quốc gia sử dụng[sửa | sửa mã nguồn]

Các nước sử dụng Type 63

 Campuchia - 20

 Bắc Triều Tiên

 Myanmar - 50

 Pakistan - 50

 Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa - 300 Type 63A, Type 63A-I và Type 63A-II

 Cộng hòa Congo - 8

 Sri Lanka

 Sudan

 Tanzania - 30

 Việt Nam - 150

Các nước sử dụng cũ

 Albania - 200 (đã cho giải tán)

 Bắc Việt Nam

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]