Đại chủng viện Xuân Bích Huế

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Đại chủng viện Huế (tiếng Anh: Saint Sulpice Seminary of Hue) là một trong 9 đại chủng việnViệt Nam. Đại chủng viện này tọa lạc tại số 30, đường Kim Long, thành phố Huế, có chức năng đào tạo linh mục cho giáo phận Huế, giáo phận Đà Nẵnggiáo phận Kon Tum. Giám đốc chủng viện hiện nay là Gioan Baotixita Nguyễn Văn Đán.

Đại chủng viện Huế được thành lập trên cơ sở Đại chủng viện Carôlô do Khâm sứ Elzéar des Achards de la Baume sáng lập ở Huế vào thập niên 1970 và được các linh mục Hội Thừa sai Paris duy trì [1]. Ngày 1 tháng 9 năm 1962, Đại chủng viện Huế khai giảng và đã đón nhận các chủng sinh của giáo tỉnh miền Trung: Huế, Đà Nẵng, Kontum, Quy Nhơn, Ban Mê ThuộtNha Trang. Từ năm 1975, sinh hoạt chủng viện bị gián đoạn.

Ngày 22 tháng 11 năm 1994, Đại chủng viện khai giảng trở lại với 40 chủng sinh của hai giáo phận Huế và Đà Nẵng. Từ năm 1998 có thêm 7 chủng sinh của giáo phận Kontum.

Các đại chủng viện và học viện Công giáo ở Việt Nam
Đại chủng viện Thánh Giuse (Hà Nội) | Đại chủng viện Thánh Tâm Mỹ Đức (Thái Bình) | Đại chủng viện Đức Mẹ Vô nhiễm Nguyên tội (Bùi Chu)
Đại chủng viện Thánh Phanxicô Xaviê Vinh Thanh (Nghệ An) | Đại chủng viện Xuân Bích (Huế) | Đại chủng viện Sao Biển (Nha Trang)
Đại chủng viện Minh Hòa (Đà Lạt) | Đại chủng viện Thánh Giuse (Sài Gòn) | Đại chủng viện Thánh Giuse (Xuân Lộc) | Đại chủng viện Thánh Quý (Cần Thơ)
Học viện Công giáo Việt Nam | Giáo hoàng Học viện Thánh Piô X Đà Lạt (ngừng hoạt động)



Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]