Đỗ Thúc Tĩnh

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Đỗ Thúc Tĩnh (1818-1862)[1], tên húy: Như Chương, tự: Cấn Trai; là quan nhà Nguyễn theo chủ trương kháng Pháp trong lịch sử Việt Nam.

Thân thế và sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Đỗ Thúc Tĩnh sinh ngày 16 tháng Giêng năm Mậu Dần (ngày 20 tháng 2 năm 1818) tại làng La Châu, huyện Hòa Vang, phủ Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam; nay thuộc xã Điện Nam, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam.

Tổ tiên của ông vốn là người ở Quảng Ngãi. Đến đời , có tổ 4 đời là Đỗ Hữu Nghi được cử làm Tri huyện Hòa Vang, và rồi định cư ở đấy. Cha Thúc Tĩnh là ông Đỗ Như Tùng, đỗ Tú tài, được bổ làm Tri huyện An Định; mẹ ông là bà Đinh Thị Thoại [2].

Tuy cha làm quan, nhưng nhà ông Tĩnh vẫn thuộc diện nghèo. Dù vậy ông vẫn rất chăm học. Đến khi cha mất sớm, ông thờ mẹ và anh rất chu đáo, có tiếng là người hiếu để [2].

Năm Thiệu Trị thứ 6 (Bính Ngọ, 1846), ông thi đỗ Cử nhân. Tự Đức năm thứ nhất (Mậu Thân, 1848), ông thi đỗ Tiến sĩ, được bổ làm Biên tu.

Năm 1850, ông được cử làm Thự Tri phủ Thiệu Hóa (Thanh Hóa), nhưng chỉ mấy tháng sau ông xin về vì mẹ ốm nặng. Mẹ mất, ông ở nhà thọ tang ba năm.

Năm 1853, Đỗ Thúc Tĩnh được bổ làm Tri phủ Diên Khánh (Khánh Hòa). Đến đây, thấy đất Diên Khánh bỏ hoang nhiều, ông bèn tìm mọi cách mộ dân xiêu dạt đến khẩn hoang. Sử nhà Nguyễn chép:"Thúc Tĩnh tìm mọi cách vỗ về, mộ dân xiêu đến lựa đất cho ở, làm nhà cửa, cho cấp điền khí, kẻ ốm đau thời (cấp) thuốc thang, kẻ đói rét thời chẩn cấp, được người ta gọi là Đỗ Phu"[3].

Năm 1854, có chỉ triệu ông về kinh làm Giám sát ngự sử, nhưng vì dân làm đơn xin lưu lạị, nên nhà vua đổi ông sang hàm Thự Thị độc, cho giữ chức vụ cũ. Chưa bao lâu sau, lại có chiếu bổ ông làm Viên ngoại lang bộ Binh, nhưng lần này quan tỉnh thấy việc mộ dân lập ấp đã sắp xong, xin cho lưu lại làm nốt. Vua lại dụ rằng: "Thúc Tĩnh là người thanh liêm cần cán vào hạng nhất trong hàng phủ huyện, cho thực thụ Thị độc (song) vẫn lưu lại đấy làm việc để khuyên khích cho những viên quan tốt" [2]. Việc xong, quan tỉnh tâu lên, ông được thăng chức Hồng lô tự khanh. Sau đó, ông lần lượt trải các chức: Án sát Khánh Hòa, Bố chính Khánh Hòa, rồi Biện lý bộ Binh.

Tháng 8 năm 1858, tàu Pháp nã đại bác đánh phá Đà Nẵng. Gặp sự cản ngăn quyết liệt của quân đội Việt, quân Pháp bèn tiến vào Nam, và đánh hạ thành Gia Định vào tháng 2 năm 1859. Căm tức, Đỗ Thúc Tĩnh liền dâng sớ xin vào nơi đấy để đánh đuổi quân xâm lược. Vua khen là người trung nghĩa, khẳng khái, cho sung làm Khâm sai. Lại cấp cho ông 30 lạng bạcngựa trạm để đến hai tỉnh là Vĩnh LongHà Tiên, tuyên chỉ dụ cho sĩ dân, đồng thời chiêu mộ nghĩa dũng; sau đó, sẽ hợp lực cùng Tổng đốc Trương Văn Uyển và Tuần phủ Phan Khắc Thận bàn bạc việc quân. Thấy ông làm được một số việc, vua Tự Đức chuẩn cho ông làm Tuần phủ Định Tường. Ở đây, ông xin cho triệu tập binh sĩ, tích trữ lương thực, chọn chỗ hiểm để lập đồn. Lại xin thuê những người nước ngoài (như người nhà Thanh) ở Gia Định để làm nội ứng mặt thủy và mặt bộ. Vua xem sớ rồi dụ rằng:

Thúc Tĩnh xem xét tình hình, trù nghĩ phương lược...Tuy còn đương lắng chờ cơ hội, chưa thể vội và đem dùng, nhưng vì nước làm việc như vậy là có lòng trung thành, (biết) mưu tính sâu xa. Thương tình nhà ngươi vất vả, cho thăng Lại bộ Thị lang, (song) vẫn lĩnh chức cũ"[2].

Theo thông tin trên website Xứ Quảng, lúc đầu Đỗ Thúc Tĩnh phối hợp với Trương Định, về sau với Nguyễn Trung Trực, Võ Duy Dương... góp phần đánh thắng quân Pháp nhiều trận, xuất sắc nhất là trận đốt cháy chiếc tiểu hạm Espérance của đối phương tại vàm Nhật Tảo năm 1861...Nhờ lập được một số thành tích, tháng 11 năm 1861, ông được thăng chức Lại bộ Hữu thị lang.

Năm 1862, Đỗ Thúc Tĩnh lâm bệnh mất tại quân thứ lúc 44 tuổi.

Được khen ngợi và ghi công[sửa | sửa mã nguồn]

Sử nhà Nguyễn chép:

"Thúc Tĩnh là người khẳng khái, dũng cảm, thao lược, có chí mà chưa đạt, vua rất lấy làm tiếc, truy tặng (chức) Tuần phủ, và gia cấp cho gấm lụa bạc tiền. Con là (Đỗ) Hữu Điền được ấm thụ chức Tư vụ, (sau) thăng mãi đến chức Tri phủ Ninh Hòa (thuộc Khánh Hòa)" [2].

Ghi công ông, ở thành phố Đà Nẵng hiện nay, có con đường mang tên Đỗ Thúc Tĩnh.

Sách tham khảo chính[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Ghi theo Chính biên (tr. 825).Có nguồn ghi là Đỗ Thúc Tịnh.
  2. ^ a ă â b c Chính biên, truyện: Đỗ Thúc Tĩnh, tr.825-827.
  3. ^ Chính biên (tr. 825). Sách này cũng đã giải thích rằng: Đỗ Phu ở đây chỉ Đỗ Dụ, là người đời Tấn (Trung Quốc). Khi làm quan ở Tương Dương, ông đã cho dẫn nước sông tưới cho hơn vạn khoảnh ruộng. Dân được nhờ ơn, gọi ông là Đỗ Phụ (Cha họ Đỗ).