Đoàn Sinh Hưởng

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Đoàn Sinh Hưởng (sinh 1949)[1][2] là một sĩ quan cấp cao trong Quân đội Nhân dân Việt Nam, hàm Trung tướng, là tiến sĩ Khoa học quân sự, Anh hùng LLVTND, nguyên Tư lệnh Binh chủng Tăng Thiết Giáp, nguyên Tư lệnh Quân khu 4 (2005–2008).

Thân thế[sửa | sửa mã nguồn]

Ông sinh năm 1949, tại phường Bình Ngọc, thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh, nhập ngũ ngày 28 tháng 9 năm 1966.

Năm 1968, trong chiến dịch Đường 9 - Khe Sanh, Đoàn Sinh Hưởng là Tiểu đội trưởng kiêm Trung đội phó Đại đội súng cối 82 ly thuộc Trung đoàn 88. Ông đã trực tiếp chiến đấu 4 trận, đánh sập 5 lô cốt, phá hủy 1 đại liên, tiêu diệt 15 lính Mỹ, được tặng danh hiệu “Dũng sỹ diệt Mỹ”, "Dũng sĩ diệt xe cơ giới", “Chiến sỹ thi đua”[3]. Ông được phong tặng danh hiệu "Dũng sĩ diệt Mỹ" và được kết nạp Đảng ngay tại trận địa khi mới 19 tuổi. Sau đó, ông được điều về hậu phương để đào tạo thành lính xe tăng.

Tháng 5-1974, trong trận tiến công cụm cứ điểm Đăk Pét ở Bắc Tây Nguyên, Đoàn Sinh Hưởng là Đại đội trưởng đại đội xe tăng số 9, ông đã chỉ huy đơn vị yểm trợ đắc lực cho bộ binh tiêu diệt địch. Xe tăng T-54 mang số hiệu 980 của ông đã diệt 10 lô cốt, 1 khẩu pháo 105mm, bắt sống 10 lính.

Trong chiến dịch Tây Nguyên tháng 3-1975, Đoàn Sinh Hưởng dẫn đầu đơn vị thọc sâu, tiến công mãnh liệt vào Sư đoàn 23 địch giữa ban ngày, tạo thuận lợi cho bộ binh tiêu diệt căn cứ địch, bắt sống Tỉnh trưởng tỉnh Đăk Lắk. Xe tăng của ông đã tiêu diệt hàng chục bộ binh địch, bắn cháy 2 xe bọc thép M113, 1 xe tăng M41, 5 xe quân sự. Tiếp đó Đoàn Sinh Hưởng chỉ huy đơn vị đánh vào thị xã Cheo Reo, lấy xe địch đánh địch, góp phần cùng bộ binh tiêu diệt toàn bộ quân địch rút chạy trên đường số 7. Trong trận này ông diệt 10 xe vận tải và 2 xe tăng.

Ngày 1/4/1975, Đoàn Sinh Hưởng cùng đơn vị tiến vào giải phóng thị xã Tuy Hòa, thị trấn Tuy An, sân bay Đông Tác (Phú Yên). Xe tăng của ông đã dùng 4 quả pháo đánh tan 1 trận địa pháo 105mm gồm 4 khẩu, bắn cháy 1 tàu chiến và 1 xuồng chiến đấu tại cửa biển Tuy Hòa[3].

Trong chiến dịch Hồ Chí Minh, Đoàn Sinh Hưởng chỉ huy Đại đội xe tăng 9 trong đội hình thọc sâu của Quân đoàn 3 tiến vào nội đô Sài Gòn. Sáng ngày 29/4/1975, đội hình 4 xe tăng do Đoàn Sinh Hưởng chỉ huy gặp đoàn 24 xe tăng, thiết giáp của địch. Phân đội xe tăng do Đoàn Sinh Hưởng chỉ huy sau ít phút chiến đấu đã tiêu diệt 12 chiếc, 12 chiếc còn lại bị bị bắt sống.

Từ năm 1968 đến mùa Xuân năm 1975, Đoàn Sinh Hưởng tham gia nhiều chiến dịch lớn, tiêu biểu là: Đường 9 - Khe Sanh (Quảng Trị), Tây Nguyên, Trung Trung Bộ và Chiến dịch Hồ Chí Minh. Ông được tặng thưởng 2 Huân chương Chiến công hạng Nhì, 2 Huân chương chiến công hạng Ba, 2 lần là “Chiến sỹ thi đua” và nhiều phần thưởng khác. Năm 1975, ông được Đảng và Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVTND (tháng 9-1975), khi vừa tròn 26 tuổi.

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

Ông có mối tình đầu với cô Liễm, người cùng quê hương. Hôm ông lên đường nhập ngũ ở bến đò ngang (ngày 28/9/1966), cô Liễm cũng ra đưa tiễn. Suốt gần 10 năm ông chiến đấu ở mặt trận, cô Liễm ở quê nhà chờ đợi ông. Sau ngày chiến thắng, ông về quê và 2 người kết hôn.

Ông đã viết bài thơ "Quê tôi" để nhớ về kỷ niệm mối tình ngày ấy: "Nhớ ngày trên bến đò ngang/ Em đưa anh xuống sang trang cuộc đời/ Chiến trường khắp chốn cùng nơi/ Vẫn đôi chân bước cuộc đời xông pha/ Tình non nước, nghĩa quê nhà/ Gian nan mà chẳng phôi pha lời thề/ Cả cuộc đời, mối tình quê/ Ngàn năm giữ lấy lời thề chẳng phai"[4]

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]