7 Iris

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
7 Iris 7 Iris Astronomical Symbol.svg
7Iris-LB1-richfield-mag10.jpg
Tiểu hành tinh Iris (cấp sao biểu kiến 10.1)
Khám phá
Khám phá bởiJohn Russell Hind
Ngày khám phá13 tháng 8 năm 1847
Tên chỉ định
Phiên âm/ˈaɪər[invalid input: 'ɨ']s/ YR-is
Đặt tên theo
Īris
không có
Vành đai chính
Tính từIridian /ˈrɪdiən/[1]
Đặc trưng quỹ đạo
Kỷ nguyên ngày 26 tháng 11 năm 2005 (JD 2453700.5)
Viễn điểm quỹ đạo2.937 AU (439.337 Gm)
Cận điểm quỹ đạo1.833 AU (274.259 Gm)
Bán trục lớn2.385 AU (356.798 Gm)
Độ lệch tâm0.231
Chu kỳ quỹ đạo3.68 a (1345.375 d)
Tốc độ vũ trụ cấp 119.03 km/s
Độ bất thường trung bình269.531°
Độ nghiêng quỹ đạo5.527°
Kinh độ của điểm nút lên259.727°
Acgumen của cận điểm145.440°
Các tham số quỹ đạo chuẩn[2]
Bán trục lớn chuẩn2.3862106 Đơn vị thiên văn
Quỹ đạo lệch tâm chuẩn0.2125516
Độ nghiêng quỹ đạo chuẩn6.3924857°
Chuyển động trung bình chuẩn97.653672 deg / yr
Chu kỳ quỹ đạo chuẩn3.6865 yr
(1346.493 d)
Củng điểm quỹ đạo tiến động38.403324 arcsec / yr
Kinh độ của điểm nút lên tiến động−46.447128 arcsec / yr
Đặc trưng vật lý
Kích thước240×200×200 km[3]
225×190×190 km[4]
199.8 ± 10 km (IRAS)[5]
Khối lượng1.62 ± 0.09 ×1019 kg[3]
Mật độ khối lượng thể tích3.21 ± 0.49 g/cm³[3]
Hấp dẫn bề mặt1085.4 m/s²
Tốc độ vũ trụ cấp 214.701 km/s
Chu kỳ tự quay0.2975 d[6]
Suất phản chiếu0.277 (geometric)
Nhiệt độ~171 K
max: 275 K (+2°C)
Kiểu phổkiểu S
Cấp sao biểu kiến6.7[7][8] to 11.4
Cấp sao tuyệt đối (H)5.51
Đường kính góc0.32" to 0.07"

7 Iris là một tiểu hành tinh lớn quay xung quanh Mặt Trời ở giữa Sao HỏaSao Mộc. Nó là vật thể sáng thứ tư trong vành đai tiểu hành tinh. Iris là một tiểu hành tinh kiểu S, nghĩa là nó được cấu tạo từ đá.

Phát hiện và tên gọi[sửa | sửa mã nguồn]

Iris được J. R. Hind phát hiện vào ngày 13 tháng 8 năm 1847 từ London, Anh. Nó là tiểu hành tinh đầu tiên được ông phát hiện.

Iris được đặt tên theo vị nữ thần cầu vồng Iris trong thần thoại Hy Lạp, người đưa tin của các vị thần.

Đặc điểm[sửa | sửa mã nguồn]

Kích cỡ của mười tiểu hành tinh đầu tiên được phát hiện so với Mặt Trăng của Trái Đất. Iris nằm ở vị trí thứ tư từ phải sang.
Quỹ đạo của Iris so với Trái Đất, Sao Hỏa và Sao Mộc.

Quỹ đạo[sửa | sửa mã nguồn]

Iris tới gần Sao Hỏa với khoảng cách 0.4AU một cách đều đặn. Lần tiếp theo việc này xảy ra là vào ngày 2 tháng 11 năm 2054.[9]

Địa chất[sửa | sửa mã nguồn]

Iris là một tiểu hành tinh kiểu S. Bề mặt của nó rất có thể có những suất phản xạ khác nhau, với một khu vực sáng lớn nằm trên bán cầu bắc.[10] Nhìn chung bề mặt của Iris rất sáng và có khả năng bao gồm các kim loại niken-sắt cũng như silicat magiêsắt. Quang phổ của tiểu hành tinh này tương đồng với LLL chondrite,[11] vì vậy có thể những thiên thạch này được bắt nguồn từ Iris.

Trong số các tiểu hành tinh kiểu S, Iris đứng thứ năm về đường kính trung bình, sau Eunomia, Juno, AmphitriteHerculina.

Độ sáng[sửa | sửa mã nguồn]

Bề mặt sáng và khoảng cách gần với Mặt Trời khiến Iris vật thể sáng thứ tư trong vành đai tiểu hành tinh, sau Vesta, CeresPallas. Nó có cấp sao +7.8, gần bằng Sao Hải Vương và có thể dễ dàng nhìn thấy được bằng ống nhòm tại hầu hết các xung đối. Ở những xung đối nhất định nó còn sáng hơn Pallas một chút.[12] Thậm chí, tại một số xung đối gần với cận điểm quỹ đạo, Iris có thể đạt cấp sao +6.7, bằng với độ sáng tối đa của Ceres.

Sự tự quay[sửa | sửa mã nguồn]

Phân tích đường cong ánh sáng cho thấy Iris có hình dạng hơi góc cạnh. Điểm cực của nó hướng về tọa độ hoàng đạo (β, λ) = (10°, 20°) với khoảng chênh lệch 10°,[4] khiến trục quay của nó nghiêng 85°. Do đó, trên gần hết một bán cầu của Iris, Mặt Trời không mọc vào mùa hè và không lặn vào mùa đông. Đối với một vật thể không có khí quyển điều này dẫn đến sự khác biệt rất lớn về nhiệt độ.

Quan sát[sửa | sửa mã nguồn]

Iris đã được quan sát khi đang che khuất một ngôi sao vào ngày 26 tháng 5, năm 1995, và sau đó vào ngày 25 tháng 7 năm 1997. Cả hai lần quan sát đều cho kết quả đường kính khoảng 200 km.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Từ điển tiếng Anh Oxford
  2. ^ “AstDyS-2 Iris Synthetic Proper Orbital Elements”. Department of Mathematics, University of Pisa, Italy. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2011. 
  3. ^ a ă â Jim Baer (2011). “Recent Asteroid Mass Determinations”. Personal Website. Truy cập ngày 14 tháng 9 năm 2011. 
  4. ^ a ă Kaasalainen, M. và đồng nghiệp (2002). “Models of twenty asteroids from photometric data” (PDF). Icarus 159 (2): 369. Bibcode:2002Icar..159..369K. doi:10.1006/icar.2002.6907. 
  5. ^ “JPL Small-Body Database Browser: 7 Iris”. Ngày 17 tháng 3 năm 2009. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2009. last obs 
  6. ^ “Planetary Data System Small Bodies Node, lightcurve parameters”. 
  7. ^ Donald H. Menzel and Jay M. Pasachoff (1983). A Field Guide to the Stars and Planets (ấn bản 2). Boston, MA: Houghton Mifflin. tr. 391. ISBN 0-395-34835-8. 
  8. ^ “Bright Minor Planets 2006”. Minor Planet Center. Truy cập ngày 21 tháng 5 năm 2008. 
  9. ^ “JPL Close-Approach Data: 7 Iris”. Ngày 30 tháng 5 năm 2008. Truy cập ngày 6 tháng 5 năm 2009. last obs 
  10. ^ Hoffmann, M.; E. H. Geyer (1993). “Spots on 4-VESTA and 7-IRIS - Large Areas or Little Patches”. Astronomy & Astrophysics Supplement 101: 621. Bibcode:1993A&AS..101..621H. 
  11. ^ Y. Ueda et al. Surface Material Analysis of the S-type Asteroids: Removing the Space Weathering Effect from Reflectance Spectrum, 34th Annual Lunar and Planetary Science Conference, March 17–21, 2003, League City, Texas, abstract no.2078 (2003).
  12. ^ Odeh, Moh'd. “The Brightest Asteroids”. Jordanian Astronomical Society. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 8 năm 2007. Truy cập ngày 16 tháng 7 năm 2007.