10 Hygiea

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
10 Hygiea 10 Hygiea Astronomical Symbol.svg
AnimatedOrbitOf10Hygiea.gif
Quỹ đạo của Hygiea trong tương quan với quỹ đạo của các hành tinh kiểu Trái Đất và Sao Mộc.
Khám phá
Khám phá bởi A. de Gasparis
Ngày khám phá 12 tháng 4, 1849
Tên chỉ định
Phiên âm /hˈə/ hy-JEE
Đặt tên theo Hygieia
Tên thay thế không có
Danh mục tiểu hành tinh Vành đai chính (Hygiea family)
Tính từ Hygiean
Đặc trưng quỹ đạo[1]
Kỷ nguyên November 30, 2008 (JD 2454800.5)
Viễn điểm quỹ đạo 3.507 AU
(524.63 Gm) (Q)
Cận điểm quỹ đạo 2.770 AU
(414.38 Gm) (q)
Bán trục lớn 3.139 AU
(469.58 Gm)
Độ lệch tâm 0.117
Chu kỳ quỹ đạo 5.56 năm
(2031.01 d)
Tốc độ vũ trụ cấp 1 16.76 km/s
Độ bất thường trung bình 197.96° (M)
Độ nghiêng quỹ đạo 3.842°
Kinh độ của điểm nút lên 283.45°
Acgumen của cận điểm 313.19°
Các tham số quỹ đạo chuẩn[2]
Bán trục lớn chuẩn 3.1417827 Đơn vị thiên văn
Quỹ đạo lệch tâm chuẩn 0.1356315
Độ nghiêng quỹ đạo chuẩn 5.1039060°
Chuyển động trung bình chuẩn 64.621768 deg / yr
Chu kỳ quỹ đạo chuẩn 5.57088 yr
(2034.763 d)
Củng điểm quỹ đạo tiến động 128.543611 arcsec / yr
Kinh độ của điểm nút lên tiến động −96.902395 arcsec / yr
Đặc trưng vật lý
Kích thước 530×407×370 ±7 km[3]
431 km (trung bình)
Diện tích bề mặt 837.080.744 km2 (323.198.682 sq mi)
Khối lượng (8.67 ±0.15)×1019 kg[3]
Khối lượng riêng trung bình 2.08 ± 0.10 g/cm³[3]
Hấp dẫn bề mặt 0.091 m/s²
Tốc độ vũ trụ cấp 2 0.21 km/s
Chu kỳ tự quay 27.623 h (1.15 d)[1]
Suất phản chiếu 0.0717 (geometric)[1]
Nhiệt độ ≈164 K
max: 247 K (−26°C) [4]
Kiểu phổ kiểu C[1]
Cấp sao biểu kiến 9.0[5] to 11.97
Cấp sao tuyệt đối (H) 5.43[1]
Đường kính góc 0.321″ to 0.133″

10 Hygieatiểu hành tinh lớn thứ tư trong Hệ Mặt Trời về thể tích và khối lượng, nó năm trong vành đai tiểu hành tinh. Với đường kính khoảng 350–500 km và khối lượng được ước tính là chiếm tới 2.9% tổng khối lượng của cả vành đai,[6] Hygiea là tiểu hành tinh tối kiểu C với bề mặt chứa carbon lớn nhất.

Mặc dù có kích thước lớn, Hygiea trông rất mờ khi quan sát từ Trái Đất. Điều này là do bề mặt tối cũng như khoảng cách khá xa Mặt Trời của nó. Vì vậy một vài tiểu hành tinh nhỏ hơn đã được phát hiện trước khi Annibale de Gasparis tìm ra nó vào ngày 12 tháng 4 năm 1849. Ở hầu hết các vị trí trên quỹ đạo, Hygiea có cấp sao biểu kiến thấp hơn bốn bậc so với Vesta, và cần phải dùng kính viễn vọng 100 mm để có thể quan sát được nó. Tuy nhiên, khi ở củng điểm quỹ đạo, Hygiea có thể được nhìn thấy qua ống nhòm 10x50.

Phát hiện và tên gọi[sửa | sửa mã nguồn]

Hygiea được Annibale de Gasparis phát hiện vào ngày 12 tháng 4 năm 1849 tại Napoli, Ý,[7] phát hiện đầu tiên trong chín tiểu hành tinh. Giám đốc đài thiên văn Napoli, Ernesto Capocci, đã đặt tên cho nó là Igea Borbonica ("Bourbon Hygieia") theo tên của vương triều đã trị vì Vương quốc Hai Sicilia.[8]

Tuy nhiên, vào năm 1852, John Russell Hind đã viết rằng "nó thường được gọi là Hygeia, phần phụ không cần thiết 'Borbonica' được loại bỏ."[8] Tên gọi này bắt nguồn từ Hygieia, vị nữ thần Hy Lạp của sức khỏe, con gái của Asclepius.[9] Nó thường được viết là Hygeia vào thế kỷ mười chín, ví dụ như trong tờ Monthly Notices of the Royal Astronomical Society.[10]

Đặc điểm vật lý[sửa | sửa mã nguồn]

Kích thước của 10 tiểu hành tinh đầu tiên được phát hiện so với Mặt Trăng của Trái Đất. Hygiea nằm ở ngoài cùng bên phải.
Hiệp hội Thiên văn Quốc tế đã xếp Hygiea vào danh sách những thiên thể có khả năng là một hành tinh.[11]

Bề mặt của Hygiea bao gồm vật chất chứa carbon cổ xưa với quang phổ tương tự như của các thiên thạch carbonaceous chondrite.[9] Bề mặt cổ xưa này cho thấy Hygiea không bị tan chảy trong giai đoạn đầu của quá trình hình thành Hệ Mặt Trời.[9]

Hygiea là thành viên chính của nhóm tiểu hành tinh Hygiea và chứa hầu hết khối lượng của nhóm này (hơn 90%). Nó có kích thước lớn nhất trong các tiểu hành tinh tối kiểu C, loại tiểu hành tinh chiếm đa số ở phía ngoài vành đai tiểu hành tinh. Có vẻ như Hygiea có hình cầu dẹt với đường kính trung bình 444 ± 35 km và tỷ lệ bán trục lớn 1.11,[9] cao hơn nhiều so với 2 Pallas, 4 Vestahành tinh lùn Ceres. Giống như Ceres, Hygiea có tỷ trọng tương đối thấp, tương tự như các vệ tinh băng của Sao MộcSao Thổ thay vì các hành tinh kiểu Trái Đất hay các tiểu hành tinh đá.

Mặc dù là vật thể lớn nhất trong khu vực của mình, Hygiea trông rất mờ khi quan sát từ Trái Đất do bề mặt tối và khoảng cách xa Mặt Trời của nó. Thậm chí Hygiea là tiểu hành tinh mờ thứ ba trong số hai mươi tiểu hành tinh đầu tiên được phát hiện, chỉ sau 13 Egeria17 Thetis.[12] Hygiea có cấp sao khoảng +10.2,[12] thấp hơn bốn bậc so với Vesta và phải dùng kính viễn vọng ít nhất là 4 inch (100 mm) để quan sát.[13] Tuy nhiên, tại cận điểm quỹ đạo, Hygiea có thể đạt cấp sao +9.1 và có thể được nhìn thấy qua ống nhòm 10x50, trong khi hai tiểu hành tinh lớn thứ hai và thứ ba, 704 Interamnia511 Davida, lại luôn nằm ngoài khả năng quan sát của ống nhòm.

Ít nhất 5 lần Hygiea che khuất sao đã được các nhà thiên văn học quan sát từ Trái Đất,[14] nhưng vẫn chưa có nhiều thông tin về hình dạng của nó. Kính viễn vọng không gian Hubble đã loại bỏ khả năng tồn tại vật thể có đường kính trên 16 km cùng quỹ đạo với Hygiea.[15]

Quỹ đạo và sự tự quay[sửa | sửa mã nguồn]

Mô phỏng quỹ đạo của Hygiea trong tương quan với Sao Mộc; Sao Mộc (vòng tròn màu tím) hầu như đứng yên.

Nhìn chung, các đặc tính của Hygiea ít được biết đến nhất trong số bốn vật thể lớn của vành đai tiểu hành tinh. Quỹ đạo của nó gần với mặt phẳng hoàng đạo hơn nhiều so với Ceres, Pallas hay Interamnia,[9] nhưng lại không tròn bằng Ceres và Vesta với độ lệch khoảng 12%.[1] Tại viễn điểm quỹ đạo, Hygiea vươn ra tới rìa vành đai tiểu hành tinh ở cận điểm quỹ đạo của nhóm tiểu hành tinh Hilda.[16] Hygiea được Trung tâm Tiểu hành tinh sử dụng để tính toán nhiễu loạn.[17]

Hygiea tự quay với tốc độ chậm một cách bất thường khi mất 27 giờ 37 phút để quay được một vòng,[1] trong khi các tiểu hành tinh lớn thường chỉ mất từ 6 đến 12 giờ. Hướng tự quay của Hygiea vẫn chưa được xác định nhưng có khả năng là ngược chiều kim đồng hồ.[9] Phân tích đường cong ánh sáng cho thấy điểm cực của Hygiea có khả năng hướng về tọa độ hoàng đạo (β, λ) = (30°, 115°) hoặc (30°, 300°) với khoảng chênh lệch 10°,[18] khiến cho trục quay của nó nghiêng khoảng 60° trong cả hai trường hợp.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b c d đ “JPL Small-Body Database Browser: 10 Hygiea”. Truy cập ngày 7 tháng 9 năm 2008. 
  2. ^ “AstDyS-2 Hygiea Synthetic Proper Orbital Elements”. Department of Mathematics, University of Pisa, Italy. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2011. 
  3. ^ a ă â Jim Baer (2010). “Recent Asteroid Mass Determinations”. Personal Website. Truy cập ngày 2 tháng 9 năm 2011. 
  4. ^ L.F. Lim; McConnochie, T; Belliii, J; Hayward, T (2005). “Thermal infrared (8–13 µm) spectra of 29 asteroids: the Cornell Mid-Infrared Asteroid Spectroscopy (MIDAS) Survey”. Icarus 173 (2): 385. Bibcode:2005Icar..173..385L. doi:10.1016/j.icarus.2004.08.005. 
  5. ^ “AstDys (10) Hygiea Ephemerides”. Department of Mathematics, University of Pisa, Italy. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2010. 
  6. ^ "Mass of 10 Hygiea" 0.445 / "Mass of Mbelt" 15 = 0.0296
  7. ^ A. O. Leuschner (15 tháng 7 năm 1922). “Comparison of Theory with Observation for the Minor planets 10 Hygiea and 175 Andromache with Respect to Perturbations by Jupiter”. Proceedings of the National Academy of Sciences of the United States of America (National Academy of Sciences) 8 (7): 170–173. Bibcode:1922PNAS....8..170L. doi:10.1073/pnas.8.7.170. PMC 1085085. PMID 16586868. 
  8. ^ a ă John Russell Hind (1852). The Solar System: Descriptive Treatise Upon the Sun, Moon, and Planets, Including an Account of All the Recent Discoveries. G. P. Putnam. tr. 126. 
  9. ^ a ă â b c d Barucci, M (2002). “10 Hygiea: ISO Infrared Observations”. Icarus 156 (1): 202. Bibcode:2002Icar..156..202B. doi:10.1006/icar.2001.6775. 
  10. ^ Hartnup, J. (tháng 6 năm 1850). “Observations of Hygeia”. Monthly Notices of the Royal Astronomical Society 10: 162. Bibcode:1850MNRAS..10..162H. 
  11. ^ O. Gingerich (2006). “The Path to Defining Planets” (PDF). Harvard-Smithsonian Center for Astrophysics and IAU EC Planet Definition Committee chair. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 3 năm 2007. Truy cập ngày 13 tháng 3 năm 2007. 
  12. ^ a ă Moh'd Odeh. “The Brightest Asteroids”. The Jordanian Astronomical Society. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 5 năm 2008. Truy cập ngày 21 tháng 5 năm 2008. 
  13. ^ “What Can I See Through My Scope?”. Ballauer Observatory. 2004. Truy cập ngày 20 tháng 7 năm 2008. 
  14. ^ James L. Hilton. “Asteroid Masses and Densities” (PDF). U.S. Naval Observatory. Lunar and Planetar Institute. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 8 năm 2008. Truy cập ngày 26 tháng 8 năm 2008. 
  15. ^ A. Storrs (1999). “Imaging Observations of Asteroids with Hubble Space Telescope”. Icarus 137 (2): 260. Bibcode:1999Icar..137..260S. doi:10.1006/icar.1999.6047. 
  16. ^ L’vov V.N., Smekhacheva R.I., Smirnov S.S., Tsekmejster S.D. “Some Peculiarities in the Hildas' Motion” (PDF). Central (Pulkovo) Astronomical Observatory of Russian Academy of Sciences. Truy cập ngày 7 tháng 9 năm 2008. 
  17. ^ “Perturbing Bodies”. Minor Planet Center. Truy cập ngày 18 tháng 4 năm 2013. 
  18. ^ M. Kaasalainen (2002). “Models of Twenty Asteroids from Photometric Data” (PDF). Icarus 159 (2): 369. Bibcode:2002Icar..159..369K. doi:10.1006/icar.2002.6907. Truy cập ngày 23 tháng 6 năm 2009.