Abdul Salam Arif

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
‘Abd ul-Salam Arif Al-jumaily
عبد السلام محمد عارف الجميلي
President Abd al-Salam Arif.jpg
Chức vụ
Nhiệm kỳ8 tháng 2 năm 1963 – 13 tháng 4 năm 1966
Tiền nhiệmMuhammad Najib ar-Ruba'i
Kế nhiệmAbdul Rahman Arif
Thông tin chung
Quốc tịchNgười Iraq
Sinh(1921-03-21)21 tháng 3 năm 1921[1]
Baghdad, Xứ bảo hộ Mesopotamia thuộc Anh
Mất13 tháng 4 năm 1966(1966-04-13) (45 tuổi)
Iraq
Tôn giáoHồi giáo Sunni
Đảng pháiLiên minh Xã hội Ả Rập
Binh nghiệp
Phục vụFlag of Iraq (1959–1963).svg Iraq
ThuộcQuân đội Iraq
Cấp bậcThượng tá
Tham chiếnđảo chính Iraq năm 1958

‘Abd ul-Salam Mohammed ‘Arif Aljumaily (tiếng Ả Rập: عبد السلام محمد عارف الجميلي`Abd as-Salām `Ārif Al-jumaili) (21 tháng 3 năm 1921 - 13 tháng 4 năm 1966) là Tổng thống Iraq thứ nhì từ năm 1963 cho đến khi ông qua đời. Ông đóng một vai trò hàng đầu trong cách mạng 14 tháng 7 trong đó chế độ quân chủ Hashemite bị lật đổ vào ngày 14 tháng 7 năm 1958.

Quá trình hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

Cuộc đảo chính 1958 và xung đột với Qasim[sửa | sửa mã nguồn]

Ông cùng với Abdel Karim Qasim và các sĩ quan quân đội Iraq khác, Arif là một thành viên của tổ chức bí mật, Các sĩ quan Tự do của Iraq. Giống như Qasim, Arif đã phục vụ trong các cuộc xung đột Ả Rập-Israel năm 1948 không thành công, nơi ông bắt Jenin trong khu vực nay là một phần Bờ Tây của Palestine. Trong mùa hè năm 1958, Thủ tướng Chính phủ Nuri al-Said ra lệnh cho quân đội Iraq dưới quyền Arif giúp đỡ Jordan, là một phần của một thỏa thuận của Liên đoàn Ả Rập.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Al-Marashi, I.; Salama, S. (2008). Iraq's Armed Forces: An Analytical History. Routledge. tr. 74. ISBN 9780415400787. Truy cập ngày 12 tháng 12 năm 2014.