Anh em kết nghĩa

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Tranh vẽ ba anh em Lưu Quan Trương đang kết nghĩa

Anh em kết nghĩa hay huynh đệ kết nghĩa hay còn gọi là An Đáp là những người (thường là đàn ông) gồm hai hay nhiều hơn tuy không có quan hệ anh em máu mũ, họ hàng nhưng có quan hệ mật thiết, thân tình với nhau như những người anh em thật sự bằng những lời tuyên thệ kết nghĩa với nhau. Trong những buổi lễ, có thể có các nghi thức như cắt máu ăn thề, vái trời đất hoặc trao các tín vật làm tinh. Đặc biệt là nghi lễ cắt máu ăn thề để chứng tỏ một lời thề máu, máu của mỗi người được trộn lẫn vào nhau, có thể rỏ vào rượu để uống.

Trong lịch sử và văn hóa[sửa | sửa mã nguồn]

Trong Tam Quốc diễn nghĩa có ba anh em kết nghĩa là Lưu Bị, Quan Vũ, Trương Phi kết nghĩa tại vườn đào với lời thề: Tuy không sinh cùng ngày cùng tháng nhưng nguyện chết cùng tháng cùng ngày. Tình cảm của ba vị anh em kết nghĩa này được miêu tả son sắt trong suốt tác phẩm. Trong Tây Du Ký, Tôn Ngộ Không cũng là anh em kết nghĩa với Ngưu Ma Vương, nhưng sau này hai bên mâu thuẫn nên đánh giết lẫn nhau. Trong lịch sử Mông Cổ, có hai cặp kết nghĩa nổi tiếng là Dã Tốc Cai kết An Đáp với Thoán Ly (sau này là Vương Hãn) và Thiết Mộc Chân kết nghĩa với Trác Mộc Hợp. Sau này trong tiểu thuyết Anh hùng xạ điêu cũng có cặp kết An Đáp giữa Đà LôiQuách Tĩnh. Ở nước Anh cũng có hai người tên là Robert d'OuillyRoger d'Ivry được biết đến là anh em kết nghĩa. Ở Việt Nam có trường hợp anh em kết nghĩa giết nhau vì ghen tuông[1].

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]