Axit palmitôlêic

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Axit palmitôlêic
Palmitoleic acid.svg
Danh pháp IUPAC(9Z)-Hexadec-9-enoic acid
Tên khácPalmitoleic acid
cis-Palmitoleic acid
9-cis-Hexadecenoic acid
C16:1 (Lipid numbers)
Nhận dạng
Số CAS373-49-9
PubChem445638
Ảnh Jmol-3Dảnh
SMILES
InChI
Thuộc tính
Khối lượng riêng0.894 g/cm3
Điểm nóng chảy −0,1 °C (273,0 K; 31,8 °F)[Chuyển đổi: Số không hợp lệ]
Điểm sôi
Các nguy hiểm
Trừ khi có ghi chú khác, dữ liệu được cung cấp cho các vật liệu trong trạng thái tiêu chuẩn của chúng (ở 25 °C [77 °F], 100 kPa).
KhôngN kiểm chứng (cái gì Có KhôngN ?)

Axit palmitôlêic là một axit béo không bão hòa đơn, nhóm ômêga, là thành phần phổ biến của glyxêrit trong mô mỡ của người và nhiều động vật. Trong cơ thể người, nó thường có nồng độ cao hơn cả ở gan. Ở cơ thể sống, nó được biến đổi từ axit palmitic qua quá trình sinh tổng hợp nhờ xúc tác của enzym chuyên biệt là Stearoyl-CoA desaturase-1.[1][2] Enzym này được mã hoá bởi gen Δ-9-desaturase) (đêzaturaza-delta-9).

Ngoại diện[sửa | sửa mã nguồn]

Axit palmitôlêic còn nhiều có tên khác:[2]

  • (9Z)-hexadec-9-enoic acid.
  • zoomaric acid
  • cis-9-hexadecenoic acid
  • palmitolinoleic acid
  • (9Z)-hexadecenoic acid
  • (Z)-hexadec-9-enoic acid
  • (9Z)-hexadec-9-enoic acid
  • cis-delta(9)-hexadecenoic acid
  • 16:1n-7 hoặc đôi khi là 16:1∆9.

Lược sử[sửa | sửa mã nguồn]

Axit palmitôlêic là một axit hữu cơ đã được phát hiện vào năm 1854 nhờ P.G. Hofstädter khi ông nghiên cứu dầu cá chiết xuất từ gan của cá nhà táng. Mãi đến năm 1906, thì H. Bull mới phát hiện ra thành phần phân tử của nó, sau đó được Lewkowitsch đặt tên như hiện nay. Tuy nhiên cấu trúc của nó mãi đến năm 1925 mới được E.F. Armstrong và cộng sự thiết lập.[2]

Cấu tạo[sửa | sửa mã nguồn]

Axit palmitôlêic có cấu tạo của một axit béo không bão hòa đơn (có một liên kết đôi dạng cis, từ đầu methyl là omega-7 (ω-7), nối với nhóm phụ được gọi là axit béo chuỗi dài (long chain fatty acid, viết tắt là LCFA) chứa từ 14 đến 18 nguyên tử carbon.

Nói chung, mỗi phân tử của nó có 16 nguyên tử cacbon, có công thức hoá học tổng quát là CH3(CH2)5 CH=CH(CH2)7COOH, hiện đã tìm thấy ở cả thực vật và động vật, được sinh tổng hợp qua quá trình sự khử bão hòa Δ9 của axit palmitic.

Thuộc tính[1][sửa | sửa mã nguồn]

  • Khối lượng phân tử: 254.4082 g/mol
  • Công thức tóm tắt: C16H30O2.
  • Tên theo chuẩn IUPAC: (Z)-hexadec-9-enoic acid
  • Số đăng kí CAS: 373-49-9
  • PubChem: 445638
  • Ở dạng tinh khiết, nhiệt độ nóng chảy từ -0,5° đến + 0,5 °C (tức 31,1°-32,9 °F; 272,65°-273,65° K); nhiệt độ sôi ở 140°-141 °C (tức 284°-285,8 °F; 413,15°-414,15° K) trong điều kiện khí áp = 5 mm Hg.

Nguồn trong thức ăn[sửa | sửa mã nguồn]

Axit palmitôlêic rất cần cho sự sinh trưởng và phát triển của cơ thể, nhất là thời kì sơ sinh. Nguồn cung cấp axit cho con người qua chế độ ăn uống bao gồm sữa mẹ, chất béo động vật và dầu thực vật.[3]

Dầu Macadamia lấy từ hạt cây măc ca lá nhẵn (Macadamia integrifolia) và dầu hắc mai chiết xuất từ Hippophae rhamnoides chứa tới 17% cho đến 19-29% axit palmitôlêic.[4][5] Trong quả cẩm quỳ Durio graveolens có 13,55% chất béo loại này.[6]

Nguồn trích dẫn[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă National Center for Biotechnology Information. “Palmitoleic acid”. 
  2. ^ a ă â “Chemical structure of palmitoleic acid”. 
  3. ^ Ogunleye A, Fakoya AT, Niizeki S, Tojo H, Sasajima I, Kobayashi M, Tateishi S, Yamaguchi K (1991). “Fatty acid composition of breast milk from Nigerian and Japanese women”. J Nutr Sci Vitaminol (Tokyo). 37 (4): 435–42. PMID 1765848. doi:10.3177/jnsv.37.435. 
  4. ^ “Nuts, macadamia nuts, raw”. NutritionData.com. 
  5. ^ Li, Thomas S. C.; Thomas H. J. Beveridge (2003). Sea Buckthorn (Hippophae rhamnoides L.): Production and Utilization. Ottawa, Ontario: NRC Research Press. ISBN 0-660-19007-9. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 12 năm 2010. 
  6. ^ Nasaruddin, Mohd hanif; Noor, Noor Qhairul Izzreen Mohd; Mamat, Hasmadi (2013). “Komposisi Proksimat dan Komponen Asid Lemak Durian Kuning (Durio graveolens) Sabah” [Proximate and Fatty Acid Composition of Sabah Yellow Durian (Durio graveolens)] (PDF). Sains Malaysiana (bằng tiếng Malay) 42 (9): 1283–1288. ISSN 0126-6039. OCLC 857479186. Truy cập ngày 28 tháng 11 năm 2017.