Bành Triệu Cần

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Bành Triệu Cần
Peng Zhaoqin 2013.jpg
Bành Triệu Cần, Warsaw 2013
Quốc giaTrung Quốc
Hà Lan
Sinh8 tháng 5, 1968 (52 tuổi)
Quảng Châu, Quảng Đông, Trung Quốc
Danh hiệuĐại kiện tướng
FIDE rating2364 (7.2019)
Peak rating2472 (4.2002)
Thứ hạng cao nhấtHạng 17 nữ (4.2002)

Bản mẫu:Chinese-name Bành Triệu Cần (chữ Hán Trung giản thể: 彭肇勤; sinh ngày 8 tháng 5 năm 1968 tại Quảng Châu, Quảng Đông) là một cầu thủ cờ vua người Hà Lan sinh ra tại Trung Quốc, người có danh hiệu Đại kiện tướng FIDE, được trao vào tháng 10 năm 2004.

Cô đã giành được ba lần chức vô địch cờ tướng của phụ nữ Trung Quốc, vào năm 1987, 1990 và 1993. Cô đã sống ở Hà Lan từ năm 1996. Peng đã giành được giải vô địch nữ Hà Lan chưa từng có mười bốn lần, đặt danh hiệu đầu tiên vào năm 1997 và sau đó chiến thắng thêm 12 giải nữa một chuỗi không bị gián đoạn từ năm 2000 đến năm 2011. Cô liên kết đầu tiên với Alexandra Kosteniuk tại Giải vô địch Cờ vua Nữ châu Âu năm 2004 tại Dresden, và giành huy chương bạc trên tiebreak.[1] Nhờ kết quả này, Peng đã được trao danh hiệu Đại kiện tướng.[2]

Trong giải vô địch bóng đá nữ năm 2011 của Hà Lan, Bành đã thắng chín trận trong tổng số 10 trận, đặt trọn ba điểm trước đối thủ cạnh tranh gần nhất.[3]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “The 2004 European Women's Chess Champion”. ChessBase. 4 tháng 4 năm 2004. Truy cập ngày 10 tháng 11 năm 2015. 
  2. ^ Bành Triệu Cần trên trang chủ FIDE
  3. ^ “Giri, Peng win Dutch Championships with record scores”. ChessBase. 5 tháng 7 năm 2011. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 18 tháng 10 năm 2013.