Bùi Đại

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Jump to navigation Jump to search

Bùi Đại (sinh 1924) là một sĩ quan cấp cao trong Quân đội Nhân dân Việt Nam, hàm Thiếu tướng, Giáo sư, Tiến sĩ khoa học, từng giữ các chức vụ: Phó Viện trưởng Viện 103 kiêm Hiệu phó Học viện Quân y, Viện trưởng Viện nghiên cứu Y học Quân sự, Viện trưởng Bệnh viện Trung ương Quân đội 108.[1][2][3]

Thân thế và sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Ông sinh ngày 30 tháng 9 năm 1924, quê tại Phủ Lý, Hà Nam.

Tháng 10 năm 1946, khi đang là học viên năm thứ nhất Trường Quân y, ông xếp bút nghiên lên Quân y vụ Thái Nguyên chăm sóc thương bệnh binh.

Từ năm 1946 đến 1954, ông làm công tác Y tế trong Quân đội là Trưởng ban điều trị, Phó Phòng Kế hoạch Cục Quân y.

Trong 9 năm kháng chiến chống Pháp, ông theo chân bộ đội chủ lực có mặt tại hầu hết các chiến dịch lớn như: Tây Bắc, Thượng Lào… Để chuẩn bị cho chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử năm 1954, trước thời điểm chiến sự nổ ra 3 tháng, ông đi cùng với Cục trưởng Cục Quân y thời bấy giờ là ông Vũ Văn Cần bí mật lên điều tra chiến địa, bố trí các trung tâm y tế phục vụ các trận đánh.

Sau Hiệp định Genève (1954), ông được cử đi làm nghiên cứu sinh tại Liên Xô.

Sau khi về nước cho đến năm 1973, ông lần lượt giữ các chức vụ: Chủ nhiệm Bộ môn, Chủ nhiệm Khoa Truyền nhiễm của Viện 103 và Học viện Quân y (1960) rồi Chủ nhiệm Khoa Truyền nhiễm Bệnh viện Trung ương Quân đội 108. 

Từ năm 1973 đến 1982, ông lần lượt được cử giữ các chức vụ: Phó Viện trưởng rồi Viện trưởng Viện 103 kiêm Hiệu phó Trường Đại học Quân y, nhiều lần phục vụ Chiến trường miền Nam. 

Năm 1965, bộ đội và người dân Sơn La bị một đợt sốt không rõ nguyên nhân rất nghiêm trọng. Các nhân viên y tế địa phương đã cho người bệnh dùng thuốc chống sốt rét ác tính nhưng bệnh không những không suy giảm mà còn nặng thêm. Trước tình hình ấy, ông cùng với GS Võ An Dậu ở Khoa truyền nhiễm Bệnh viện 103 được điều gấp lên Sơn La đẩy lùi dịch sốt không rõ nguyên nhân này.

Những tháng ngày đầu năm 1965, bộ đội hy sinh rất nhiều vì mắc phải sốt rét ác tính. Nhất là những tân binh, nhiều chiến sĩ hành quân mới vào điểm tập kết đã phải nằm lại bởi sốt rét. Ông đã đi tất cả những chiến trường B3, B1 khu 5, B4 Bình Trị Thiên, hai lần ở B2 Nam Bộ từ 1971-1973 và 1974-1976. Làm nhiệm vụ đẩy lùi bệnh rốt rét cho bộ đội hạn chế đến mức tối đa hy sinh vì sốt rét.

Năm 1968, ông được Tổng cục và Cục quân y cử vào trong HO đón E5 ở Trị Thiên ra hậu phương (E1, E2, E3, E7. E8) với hai nhiệm vụ phòng chống và điều trị dịch sốt rét ác tính đang bùng phát ở các đơn vị này.  Nằm trong lòng chiến trận ở Nam Bộ, ông đã đề đạt với Cục Quân y nhiều phương pháp phòng và điều trị dịch sốt rét ác tính mới và hiệu quả. Một trong những biện pháp đạt hiệu quả là dùng phối hợp thuốc sốt rét (Quinin hoặc Chloroquine với Pyrimethamine) được Cục Quân y chấp nhận đưa vào điều trị cho bộ đội.  Những phương án điều trị của ông đã đáp ứng kịp thời nhu cầu chiến trường và được đưa vào các văn bản chỉ thị hướng dẫn điều trị sốt rét của Cục Quân y và của Quân y Miền Nam, được áp dụng rộng rãi ở mọi chiến trường từ các tuyến trước về cơ sở điều trị tuyến sau của hành lang 559, các quân khu B1, B3, B4, B4, B5, B2. 

Năm 1979, ông được cử làm Phó Viện trưởng Viện Quân y 103

Năm 1981, làm Viện trưởng Viện Quân y 103 kiêm Phó Giám đốc Học viện Quân y

Từ năm 1983 đến 1984, ông tiếp tục sang Liên Xô làm nghiên cứu sinh cao cấp

Năm 1984, ông là Viện trưởng Viện nghiên cứu Y học Quân sự.

Năm 1985, Viện trưởng Bệnh viện Trung ương Quân đội 108

Từ năm 1996 ông thôi giữ vai trò quản lý và chuyển sang làm chuyên viên cao cấp của Bệnh viện 108

Năm 2005, ông nghỉ hưu.

Thiếu tướng (10.1985)

Thành tích[sửa | sửa mã nguồn]

Tiến sĩ (1984)

Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân (12.1989)

Thầy thuốc Nhân dân (3.1989)

Huân chương Chiến công hạng Ba

Huân chương Kháng chiến (hạng Nhất, Ba)

Huân chương Quân công

Huân chương chiến sĩ Giải phóng

Huy chương vì cách mạng Lào

Giải thưởng nhà nước về Khoa học và Công nghệ năm 2000

Bằng khen của tổng cục Hậu cần. 

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]