Bạch Khởi

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Bạch Khởi (chữ Hán: 白起; ? – 257 TCN) là danh tướng vô địch của nước Tần trong thời Chiến Quốc, lập nhiều công lao, góp phần lớn chiến tích trong việc thống nhất Trung Quốc của nước Tần, được phong tước Vũ An quân, giữ chức Đại lương tạo, coi hết việc quân của nước Tần. Ông sinh ở miền đông huyện My, tỉnh Thiểm Tây, Trung Quốc. Ông được đánh giá là vị tướng lĩnh tài năng nhất trong bốn vị đại tướng thời Chiến Quốc, 3 người còn lại là Vương Tiễn, Liêm PhaLý Mục. Vì khi sống Bạch Khởi giết nhiều người quá nên người đương thời gọi ông là "Nhân đồ" (人屠).

Thời trẻ[sửa | sửa mã nguồn]

Tổ tiên Bạch Khởi vốn mang họ Công Tôn, là người nước Sở, sau đó đến định cư ở huyện Mi nước Tần mới đổi sang họ Bạch.

Cha Bạch Khởi xuất thân là quân nhân trong quân đội nước Tần. Bạch Khởi từ nhỏ đã theo cha sống cuộc đời trong doanh trại. Ông rất thông minh, lại hiếu học, nhất là về những vấn đề quân sự. Bạch Khởi rất say mê nghiên cứu những trận đánh và binh pháp của những tướng lĩnh nổi tiếng như Tôn Vũ, Ngô Khởi, Tôn Tẫn. Vì từ nhỏ sống trong quân doanh nên Bạch Khởi vừa giỏi lí luận quân sự lại có nhiều kinh nghiệm thực tiễn. Năm 18 tuổi ông chính thức tòng quân.

Tam Tấn mất vía[sửa | sửa mã nguồn]

Nước Tần nằm cạnh ba nước Hàn, Triệu, Nguỵ vốn tách ra từ nước Tấn nên gọi là Tam Tấn. Trên con đường thống nhất Trung Hoa, nước Tần chủ trương "đánh gần, thân xa", nghĩa là kết thân với các nước ở xa trước như Yên, Tề và đánh các nước chung biên giới như Tam Tấn và Sở. Nước Sở hùng cường đất rộng chưa dễ đánh chiếm nên mục tiêu đầu tiên của Tần là Tam Tấn.

Trong Tam Tấn, chính quyền và quân đội không phải không đủ mạnh nhưng giữa 3 nước có thế "môi răng" này lại hay có hiềm khích. Sự liên minh giữa các nước này thưòng lỏng lẻo và không bền vững. Vì thế nước Tần thường tận dụng sự mâu thuẫn đó để giành lấy lợi thế.

Năm 294 TCN, Bạch Khởi giữ chức Tả thứ trưởng, đem quân Tần đi đánh nước Hàn, chiếm được Tân Thành. Chiến dịch đó đã thể hiện tài năng quân sự vượt trội của ông, được quan tướng quốc mới nhậm chức là Ngụy Nhiễm rất mến mộ. Năm đó Ngụy Nhiễm tiến cử Bạch Khởi lên vua Tần Chiêu Tương vương, phong làm tướng.

Năm 293 TCN, Bạch Khởi cầm quân đánh nước Hàn ở phía đông, đánh bại liên quân giữa nước Ngụy và nước Hàn ở Y Khuyết (ngọn núi này thuộc vùng tây nam Lạc Dương, tỉnh Hà Nam). Trong trận này, lợi dụng sự nhút nhát của quân đội hai nước đùn đẩy nhau đi tiên phong, Bạch Khởi chủ động đánh vào đạo quân Hàn yếu hơn, kết quả quân Hàn tan rã. Ông thừa thắng truy kích đánh bại cả hai đạo quân của hai nước, chém 24 vạn thủ cấp, làm kinh động cả hai nước Hàn, Ngụy. Trận Y Khuyết này cũng là một trong những trận đánh lớn thời Chiến Quốc.

Năm 280 TCN, Bạch Khởi chỉ huy binh mã đánh Triệu, quân Triệu đại bại, quân Tần chiếm được thành Quang Lang.

Tiến vào Sính Đô[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 279 TCN, sau khi hai nước Tần, Triệu kí kết hòa ước không xâm phạm lẫn nhau, vua Tần dốc hết quân đi đánh nước Sở, cho Bạch Khởi làm chủ tướng dẫn quân xuống phía Nam, đánh bại quân Sở, chiếm đất Yên (nay là Yên Lăng, tỉnh Hà Nam), đất Lăng (nay thuộc vùng Tây Bắc Nghi Xương, tỉnh Hồ Bắc). Trong trận này ông sai người dẫn nước từ phía tây Yên Thủy chảy vào Yên thành, phá hủy hết công sự, dìm chết hơn mấy mươi vạn quân dân nước Sở. Nước cuốn xác chết người và vật trôi từ tây sang đông, nhân trời đang lúc hè, thời tiết nóng bức, xác chết trương sình lên rồi bốc mùi, người thời đó gọi là "ao nước thối".

Năm 278 TCN, Bạch Khởi được phong là Vũ An quân, trở thành một trong những vị thống soái quân sự chủ yếu trong chiến dịch đem binh sang Quan Đông của Chiêu Tương Vương, tiêu diệt 6 nước.

Năm 278 TCN, Bạch Khởi đi đánh Sở. Ông khai thác nhược điểm của nước Sở như: cậy thế nước lớn, quần thần thì tranh giành kèn cựa với nhau, lòng dân li tán, việc phòng bị lơi lỏng... Bạch Khởi đánh bại quân Sở, tiến quân vào Sính Đô. Vua tôi nước Sở bỏ chạy, phải thiên đô về Thọ Xuân. Bạch Khởi đốt cháy khu lăng mộ các vua Sở từ thời Xuân Thu. Đất ấy sau này chỉ còn phế tích sót lại của các lăng mộ vua Sở nên đổi gọi là Di Lăng.

Năm 277, 276 TCN, ở phía Nam, Bạch Khởi bình định đất Vu, đất Kiềm (nay thuộc miền đất nằm giữa đông Tứ Xuyên, tây Hồ Bắc, tây Hồ Nam và một phần phía Bắc của tỉnh Quý Châu) của nước Sở, đặt là quận Kiềm Trung.

Lại uy hiếp Tam Tấn[sửa | sửa mã nguồn]

Cùng năm đó, ông lại tiến quân về phía đông thì tiến đánh Ngụy, chiếm được hai thành trấn.

Năm 273 TCN, nhân Hàn và Nguỵ xung đột, Triệu liên kết với Ngụy đi đánh Hàn. Bạch Khởi lại đem quân đi cứu Hàn, vượt đường dài bất kể ngày đêm. Quân Tần tuy mệt mỏi nhưng Bạch Khởi vẫn quyết định tấn công chớp nhoáng, đánh bại liên quân Ngụy-Triệu ở dưới chân thành Hoa Dương (nay thuộc phía nam thành phố Trịnh Châu, Hà Nam). Liên quân nghe tiếng Bạch Khởi thì hoảng sợ tháo chạy, Bạch Khởi đánh đuổi tướng Hàn là Mang Mão, bắt được 3 viên tướng nước Ngụy, tiêu diệt 13 vạn quân địch. Sau đó ông lại kịch chiến với đại tướng Triệu là Giả Yển, đánh dồn quân Triệu xuống sông, quân Triệu đều chết đuối, quân Tần tiêu diệt 2 vạn binh sĩ Triệu.

Năm 264 TCN, Bạch Khởi đánh Hàn. Quân Hàn bị thua to ở Hình Thành (nay thuộc đông bắc huyện Khúc Nhiêu, tỉnh Sơn Tây), ông nhổ liền một lúc 9 thành, chém 5 vạn thủ cấp. Năm sau lại tiến công Nam Dương (nay thuộc vùng dọc theo sông ở Tế Nguyên, Tẩm Dương, Hà Nam), mở rộng ảnh hưởng đến tận mạn Nam núi Thái Hàng.

Đại chiến Trường Bình[sửa | sửa mã nguồn]

Nguyên nhân chiến tranh[sửa | sửa mã nguồn]

Kể từ năm 262 TCN, nước Tần và các nước ở Quan Đông như Hàn, Triệu thường xuyên xảy ra chiến tranh, trong đó có trận đánh Trường Bình, được coi là nổi tiếng nhất dưới sự chỉ huy của Bạch Khởi và là trận đánh lớn nhất thời Chiến Quốc.

Năm 262 TCN, Bạch Khởi đem quân đánh Hàn, thế như chẻ tre, nhanh chóng chiếm được thành Dã Vương (nay là Tẩm Dương, Hà Nam), cắt đứt con đường nối liền giữa quận Thượng Đảng (nay nằm ở phía đông tỉnh Sơn Tây) và kinh đô nước Hàn (nay là Tân Trịnh, Hà Nam), khiến quân Hàn ở Thượng Đảng bị cô lập.

Tần vốn mang quân đánh Hàn, sắp lấy được Thượng Đảng. Quan trấn thủ Thượng Đảng là Phùng Đình bị vây ngặt, cắt đứt liên lạc với Hàn. Biết thế không thể giữ được, Phùng Đình viết thư sang Triệu, xin mang Thượng Đảng về Triệu và xin vua Triệu đem quân đến cứu. Bất chấp ý kiến can ngăn của Bình Dương quân Triệu Báo, Triệu Hiếu Thành vương bằng lòng nhận Thượng Đảng, sai Bình Nguyên quân Triệu Thắng đến nhận đất, nhưng lại không cử đại binh đi cứu trợ cho Thượng Đảng. Tướng Tần là Vương Hạt vây đánh Thượng Đảng, Phùng Đình cầu cứu nhưng suốt 2 tháng Triệu không cử viện binh sang. Mãi tới khi vua Triệu cử danh tướng Liêm Pha đi cứu thì Vương Hạt đã đánh vỡ Thượng Đảng. Phùng Đình mang dân chạy sang nương nhờ nước Triệu. Liêm Pha đi đến ải Trường Bình mới biết Thượng Đảng bị Tần lấy rồi. Liêm Pha lui về thủ ải Trường Bình, quân Tần nhân đà thắng lợi bèn vây hãm Trường Bình.

Hai nước đổi tướng[sửa | sửa mã nguồn]

Liêm Pha sai quân đóng trại dài theo chân núi, từ đông sang tây có mấy chục doanh trại, lại cho Cái Đồng và Cái Phụ 2 vạn quân đóng ở Nhị Chương thành ở hai phía đông tây, chia cho Phùng Đình 1 vạn quân đóng ở thành Quang Lang, sau đó sai Triệu Gia đem quân ra thám thính tình hình quân Tần. Triệu Gia dẫn quân đi đụng phải tướng Tần là Tư Mã Cánh, bị Cánh chém chết dưới chân ngựa, quân Triệu thua chạy. Vương Hạt xua quân đánh Nhị Chương thành, Cái Đồng và Cái Phụ thua chạy, quân Triệu trong hai thành đều hàng Tần. Vương Hạt thừa thắng đánh Quang Lang, Phùng Đình thua chạy, góp nhặt tàn quân về hội họp với Liêm Pha ở Kim Môn Sơn.

Liêm Pha ra trận hai lần thất lợi, bèn cố thủ không ra nữa và sai quân đào ao sẵn trong ải cho chứa nước, lại hạ lệnh hễ ai ra đánh dù thắng cũng bị chém. Quân Tần tấn công thì quân Triệu chỉ thủ trong doanh trại, lấy nỏ cứng bắn ra, quân Tần chết rất nhiều. Vương Hạt cường công mãi không hạ nổi cửa ải bèn dùng kế lấp nguồn nước của quân Triệu để buộc quân Triệu phải rút lui, nhưng nhờ ao đã đào sẵn trong ải nên quân Triệu không thiếu nước, ngoan cường chống trả. Vương Hạt suốt 2 năm không đánh nổi ải Trường Bình, lại hao tổn mười vạn người, phải xin vua Tần cho viện binh.

Năm 260 TCN, vua Tần quyết định cử Bạch Khởi ra mặt trận làm chủ tướng, Vương Hạt vẫn được giữ lại làm phó tướng, lại hạ lệnh giữ bí mật việc đổi tướng, ai làm lộ thì chém. Đồng thời, vua Tần theo kế Phạm Thư lại phao tin rằng quân Tần chỉ sợ tướng Triệu là Triệu Quát, con Mã Phục quân Triệu Xa, chứ không sợ Liêm Pha. Vua Triệu thấy Liêm Pha cầm cự mãi cho là nhát, bèn sai tướng trẻ Triệu Quát ra mặt trận, còn Liêm Pha thì bị tước binh quyền phải quay về Hàm Đan. Triệu Quát ra đến Trường Bình, bãi bỏ hết những sắp xếp nhân sự của Liêm Pha, lại phá bỏ tháo dỡ những công sự mà Liêm Pha xây dựng, có ý muốn chong mặt ra đánh với quân Tần. Quát cầm hơn 40 vạn quân, chủ quan coi thường Vương Hạt, không ngờ Bạch Khởi đã ra cầm quân ngoài mặt trận. Bản thân vua Tần cũng đích thân ra mặt trận khao thưởng tướng sĩ, làm tăng sĩ khí quân Tần.

Bạch Khởi cố ý cho Triệu Quát thắng lợi một trận để coi thường quân Tần, sau đó dụ Triệu Quát ra khỏi ải rồi đặt phục binh đánh tan nát quân Triệu. Sau đó quân Tần lại cắt đường vận lương khiến 40 vạn quân Triệu bị vây khốn, thiếu lương ăn. Quân Triệu bị vây liên tục trong vòng 46 ngày, mặc dù quân số đông hơn quân Tần nhưng không thể phá vây ra được, quân Tần ít hơn nhưng dũng mãnh thiện chiến, quân Triệu mấy phen xông ra đều bị đánh bại. Triệu Quát thấy hết lương, phải liều phá vây ra, bị Bạch Khởi hạ lệnh dùng nỏ cứng bắn vào, Quát tử trận. Phùng Đình nghe tin quân Triệu thua bèn tự sát. Gần như toàn bộ quân Triệu đầu hàng.

Tàn sát hàng binh Triệu[sửa | sửa mã nguồn]

Quân Triệu đầu hàng quá đông, Bạch Khởi sợ không kiềm chế được, nên bàn với Vưong Hạt chôn sống hết. Để lừa quân Triệu, ông đem hàng tốt chia làm mười doanh, sai mươi viên tướng thống suất, hợp với quân Tần, đều cho trâu rượu, ăn uống và nói rằng ngày mai Võ An quân sẽ lựa chọn quân Triệu, người nào khoẻ mạnh đánh trận được, thì cấp cho khí giới và đem về nước Tần sai dụng, còn người già yếu hay nhát sợ đều cho về Triệu. Quân Triệu mừng rỡ.

Đêm ấy, Bạch Khởi truyền mật lệnh cho mười viên tướng rằng:

Quân Tần đều dùng vải trắng phủ đầu, nếu đầu không có vải trắng, thì tức là quân Triệu, đều phải giết đi.

Quân Tần theo lệnh, cùng ra tay một lúc. Hàng tốt nước Triệu vì không biết có lệnh ấy, lại không có khí giới, nên đều bó tay chịu chết. Bốn mươi vạn quân Triệu trong một đêm đều bị chém chết cả. Bạch Khởi thu nhặt những đầu lâu quân Triệu, chất đống ở trong luỹ Tần, gọi là núi Đầu Lâu.

Tính ra trong trận Trường Bình, trước sau quân Tần hoặc chém hoặc bắt tổng cộng 45 vạn quân Triệu, kể cả những quân Triệu đầu hàng Vương Hạt trước, đều bị giết sạch cả, chỉ còn 240 người ít tuổi được thả về Hàm Đan để tuyên dương cái oai của nước Tần.

Vụ chôn sống quân Triệu là một trong những vụ thảm sát lớn nhất thời cổ đại của lịch sử Trung Quốc.

Bị lỡ thời cơ[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 260 TCN, thừa thắng ở Trường Bình, Bạch Khởi chia quân làm ba hướng, một cánh do Vương Hạt chỉ huy đi về hướng đông,vượt qua dãy núi Thái Hàng tiến đánh Vũ An (nay là vùng Tây Nam, Vũ An, Hà Bắc) áp sát kinh đô Hàm Đan của nước Triệu, một cánh do Tư Mã Ngạnh chỉ huy tiến về phía bắc để bình định quân Thái Nguyên, một cánh do Bạch Khởi đích thân chỉ huy, đóng giữ Thượng Đảng, chờ thời cơ tiến vây kinh thành Hàm Đan, tạo ra thế chiến lược uy hiếp nước Triệu từ hướng Tây sang hướng Đông để tiêu diệt nước Triệu.

Tuy nhiên trong tình thế như vậy, Bạch Khởi lại bị sự ghen tỵ của thừa tướng Ứng hầu Phạm Thư. Vốn nước Triệu bị kinh động vì tổn thất trong trận Trường Bình, cùng đường nhờ Tô Đại (em Tô Tần) làm thuyết khách sang nước Tần xúi giục Phạm Thư. Nghe lời Tô Đại, Thư sợ công lao của Bạch Khởi quá lớn sẽ lấn át mình, nên lại xui vua Tần Chiêu Tương vương chấp nhận lui quân giảng hòa với điều kiện nước Triệu dâng hiến sáu thành. Triệu Vương tranh thủ dịp này chỉnh đốn lại binh mã, củng cố quốc phòng.

Chết vì lời gièm[sửa | sửa mã nguồn]

Bạch Khởi nhận lệnh lui quân về nước, tiếc công lao của mình và tướng sĩ phải bỏ dở, hỏi ra mới biết là ý đồ của thừa tướng Phạm Thư. Từ đó giữa ông và Phạm Thư có hiềm khích. Bạch Khởi nói với mọi người rằng:

Từ trận thua ở Trường Bình, trong thành Hàm Đan, một đêm mười lần sợ; nếu thừa thắng tiến đánh, thì không đầy một tháng có thể lấy được. Tiếc thay Ứng hầu[1] không biết thời thế, chủ trương việc rút quân về, làm mất cơ hội ấy!

Vua Tần nghe ý kiến của ông lại hối tiếc, bèn lại dùng ông làm tướng, muốn sai đánh Triệu, nhưng gặp lúc ông có bệnh không đi được, bèn sai đại tướng Vương Lăng đem mười vạn quân đánh Triệu, vây thành Hàm Đan.

Vua Triệu sai Liêm Pha cự địch. Liêm Pha đặt quân phòng ngự rất nghiêm, lại đem gia tài mộ quân quyết tử, thường thường ban đêm cho trèo vào thành, đánh phá dinh Tần. Quân của Vương Lăng bị thua to.

Bấy giờ Vũ An quân Bạch Khởi bệnh đã khỏi, vua Tần muốn sai ra thay Vương Lăng. Vũ An quân tâu rằng:

Thật ra thành Hàm Đan không phải dễ đánh đâu! Trước kia, sau khi đại bại, trăm họ sợ hãi không yên, nếu nhân đó mà đánh, thì họ giữ không được vững, đánh không đủ sức, ta có thể đánh lấy ngay được. Nay đã hơn hai năm rồi, vết thương đã hàn, họ lại được Liêm Pha là tay lão tướng, không như Triệu Quát. Chư hầu thấy Tần đang hoà với Triệu mà lại đánh, thì cho Tần là không thể tin được, tất sẽ hợp tung mà đến cứu. Tôi chắc là Tần không thể được vậy!

Vua Tần ép nài mãi, nhưng Bạch Khởi cố từ. Vua Tần lại sai Phạm Thư đến khuyên bảo, Bạch Khởi căm giận Phạm Thư trước kia ngăn trở sự thành công của mình, bèn xưng bệnh không tiếp. Phạm Thư bèn gièm với vua Tần rằng ông muốn chống lệnh không đi. Vua Tần lại sai Vương Hột thay Vương Lăng đi đánh nhưng suốt mấy tháng cũng không hạ nổi Hàm Đan.

Phạm Thư nhân thể tâu với Tần Chiêu Tương vương, thế nào cũng phải cử Vũ An quân làm tướng. Ông lại lấy cớ bị ốm nặng. Tần Chiêu Tương vương giận dữ, sai thu hết chức tước và phong ấp của ông, giáng xuống làm lính, đày ra Âm Mật, bắt ông phải lập tức ra khỏi thành Hàm Dương. Ông than rằng:

Phạm Lãi có nói: "Con thỏ khôn đã chết, con chó săn tất bị mổ". Ta vì Tần đánh hạ được hơn bảy mươi thành của chư hầu, cái thế tất phải bị mổ!

Rồi ông đi ra cửa tây Hàm Dương, đến Đỗ Bưu tạm nghỉ để đợi hành lý. Phạm Thư lại nói với vua Tần rằng:

Bạch Khởi ra đi, trong lòng tấm tức không phục, thốt ra nhiều lời oán giận, nói có bệnh, không phải là thật, sợ rằng sẽ đi sang nước khác để làm hại Tần!

Vua Tần bèn sai sứ đưa cho Bạch Khởi một thanh gươm sắc, bắt phải tự tử. Bạch Khởi tự đâm cổ chết. Trước khi chết, ông thở dài nói:

Ta cũng đáng chết thôi. Ở Trường Bình 40 vạn quân Triệu đều đầu hàng, ta lại lừa dối chúng rồi giết hết cả đi. Chúng nó có tội gì mà lại phải bị giết như thế? Bây giờ chính là quả báo của ta chăng?

Người nước Tần nghĩ Bạch Khởi không có tội mà phải chết, đều đem lòng thương, lập đền thờ ông.

Vua Tần sau đó tiếp tục thêm quân đánh Triệu nhưng nước Triệu vẫn đứng vững, đúng như dự liệu của Bạch Khởi.

Nhận định[sửa | sửa mã nguồn]

Công trạng[sửa | sửa mã nguồn]

Bạch Khởi xông pha trận mạc suốt 37 năm, hầu như đánh đâu thắng đó, trước sau đánh phá 4 nước chư hầu, chém đầu gần 100 vạn quân địch (thực tế phải hơn con số này chưa tính cả dân thường bị liên lụy, có thuyết cho rằng Bạch Khởi đã giết hơn 200 vạn người), hạ hơn 73 thành, mở rộng hơn trăm dặm đất đai cho nước Tần, làm suy yếu hoàn toàn Tam Tấn và khiến nước Sở từ chỗ ngang hàng với Tần bị đặt vào thế yếu hơn, luôn phải ở tư thế phòng ngự. Chiến công của Bạch Khởi đã tiêu hao lực lượng chiến đấu của các nước mạnh nhất thời đó như Triệu và Sở, đưa nước Tần trở thành nước bá chủ thời Chiến Quốc, khởi đầu cho việc thôn tính hoàn toàn 6 nước chư hầu của nước Tần, đi đến thống nhất Trung Hoa.

Tài năng[sửa | sửa mã nguồn]

Bạch Khởi được các sử gia Trung Quốc đánh giá là một trong những tướng lĩnh xuất sắc nhất trong lịch sử Trung Quốc, luôn đứng đầu trong hàng ngũ các đại danh tướng. Trong khi các tướng lĩnh thời đó luôn khi ra trận luôn đặt nặng binh pháp, điển hình như Triệu Quát, Bạch Khởi lại dùng binh không theo sách. Điển hình như trong trận Trường Bình, quân Tần do ông chỉ huy tuy ít hơn nhưng lại vây ngặt nghèo quân Triệu đông hơn, thậm chí vây không để hở. Những điều trên đều đi ngược lại với những gì Tôn Vũ viết trong binh pháp, thế nhưng Bạch Khởi đã cầm quân thì đã đánh là thắng, không gì ngăn nổi. Điều này cũng khẳng định tài năng quân sự phi thường của Bạch Khởi và xuyên suốt lịch sử Trung Quốc hầu như rất ít tướng lĩnh nào có những tố chất như ông. Tuy nhiên trong các danh tướng đời sau chỉ có một người duy nhất có thể so sánh với Bạch Khởi là Hoài Âm hầu Hàn Tín, đứng đầu trong Hán Sơ tam kiệt, vị danh tướng bách chiến bách thắng đã đánh bại được Hạng Vũ và các chư hầu, một tay đem lại cơ đồ cho nhà Hán. Cả hai vị danh tướng này đều có điểm chung là sau khi công thành danh toại thì đều bị chủ giết hại.

Tính cách[sửa | sửa mã nguồn]

Bạch Khởi tuy vô địch trên chiến trường nhưng quá bộc trực thẳng tính, đã xúc phạm đến Tần Chiêu Tương Vương, người lúc này đã già có tính khí thất thường và mất đi sự kiên nhẫn, chỉ muốn nhanh chóng thành đại nghiệp. Một khuyết điểm nữa là Bạch Khởi quá hiếu sát, trong các chiến dịch do ông chỉ huy hầu như quân địch không có người sống sót trở về, thậm chí là một ngày giết mấy mươi vạn người như trong trận Y Khuyết, trận Yên-Dĩnh, trận Trường Bình. Cuối cùng ông bị gièm pha, vua Tần muốn ông chết, có thể coi là báo ứng. Tương truyền về sau vào khoảng cuối đời nhà Đường, sấm sét đánh chết một con trâu, dưới bụng trâu có hai chữ "Bạch Khởi". Người ta nói Bạch Khởi vì giết người nhiều quá, nên mấy trăm năm sau vẫn còn phải chịu cái quả báo làm kiếp trâu bị sét đánh.

Trong trò chơi điện tử[sửa | sửa mã nguồn]

Bạch Khởi xuất hiện trong dòng game Romance of the Three Kingdoms của Koei như một tướng ẩn. Trong game muốn có được Bạch Khởi người chơi phải hoàn thành một số nhiệm vụ nhất định. Bạch Khởi vì danh tiếng bách chiến bách thắng của mình nên được Koei cho là một trong hai tướng có chỉ số Thống soái cao nhất là 100, người còn lại là Hàn Tín.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Tức Phạm Thư

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Lê Đông Phương, Vương Tử Kim (2007), Kể chuyện Tần Hán, Nhà xuất bản Đà Nẵng
  • Lưu Chiếm Vũ chủ biên (2000), Mười đại tướng soái Trung Quốc, Nhà xuất bản Thanh niên.