Bảng chữ cái Latinh của Gaj

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Bảng chữ cái Latinh của Gaj (tiếng Serbia-Croatia: abeceda, latinica hoặc gajica)[1] là một dạng của bảng chữ cái Latinh được dùng cho tiếng Bosna, tiếng Croatia, tiếng Serbiatiếng Montenegro. Nó được tạo ra bởi nhà ngôn ngữ học người Croatia, Ljudevit Gaj, vào năm 1835, dựa trên bảng chữ cái tiếng Séc của Jan Hus. Một phiên bản đơn giản hơn của bảng chữ cái này được sử dụng cho tiếng Slovenia, và một phiên bản mở rộng hơn được sử dụng cho tiếng Montenegro tiêu chuẩn hiện đại. Một phiên bản khác được dùng để Latinh hóa tiếng Macedonia. Pavao Ritter Vitezović đã đề xuất một ý tưởng dành cho tiếng Croatia: mỗi âm tiết chỉ được thể hiện bằng một chữ. Bảng chữ cái của Gaj hiện đang được sử dụng ở Bosna và Hercegovina, Croatia, MontenegroSerbia.

Ký tự[sửa | sửa mã nguồn]

Bảng chữ cái của Gaj bỏ 4 chữ (q,w,x,y) so với bảng chữ cái Latinh cơ bản của ISO.

Bảng chữ cái này bao gồm 30 chữ có kiểu in hoa và in thường:

Chữ in hoa
A B C Č Ć D Đ E F G H I J K L Lj M N Nj O P R S Š T U V Z Ž
Chữ in thường
a b c č ć d đ e f g h i j k l lj m n nj o p r s š t u v z ž
Phiên âm (IPA)
/a/ /b/ /ts/ /tʃ/ /tɕ/ /d/ /dʒ/ /dʑ/ /e/ /f/ /ɡ/ /x/ /i/ /j/ /k/ /l/ /ʎ/ /m/ /n/ /ɲ/ /o/ /p/ /r/ /s/ /ʃ/ /t/ /u/ /v/ /z/ /ʒ/

Ban đầu, bảng chữ cái này có chữ ghép ⟨dj⟩, về sau được nhà ngôn ngữ học người Serbia Đuro Daničić thay bằng chữ ⟨đ⟩.

Các chữ cái này không có tên, và các phụ âm thường được đọc như trên nếu cần đánh vần (hoặc thêm schwa đằng sau nó, chẳng hạn như /fə/). Khi cần có sự rõ ràng, chúng sẽ được đọc giống như trong bảng chữ cái tiếng Đức: a, be, ce, če, će, de, dže, đe, e, ef, ge, ha, i, je, ka, el, elj, em, en, enj, o, pe, er, es, eš, te, u, ve, ze, že. Những quy tắc phát âm của từng chữ cái này phổ biến đến mức 22 chữ cái khớp với bảng chữ cái Latinh cơ bản của ISO. Việc sử dụng các chữ cái khác bị giới hạn trong bối cảnh ngôn ngữ học[2][3]; còn trong toán học, ⟨j⟩ thường được đọc là jot, giống như trong tiếng Đức. Bốn chữ bị thiếu được đọc như sau: ⟨q⟩ là ku hoặc kju, ⟨w⟩ là dublve hoặc duplo ve, ⟨x⟩ là iks, ⟨y⟩ là ipsilon.

Chữ ghép[sửa | sửa mã nguồn]

Cần lưu ý rằng các chữ ghép , lj, and nj được coi là các chữ đơn:

  • Trong các từ điển, njegov theo sau novine, mục ⟨nj⟩ theo sau mục <n>; bolje là từ ngay sau bolnica; tương tự với các ví dụ khác.
M
J
E
NJ
A
Č
N
I
C
A
  • Khi viết dọc (chẳng hạn như trên biển báo), ⟨dž⟩, ⟨lj⟩, ⟨nj⟩ được viết ngang như chữ đơn. Ví dụ: Nếu từ mjenjačnica ('hối đoái') được viết dọc, ⟨nj⟩ sẽ được viết ở dòng thứ tư (lưu ý rằng ⟨m⟩ và ⟨j⟩ không đi cùng với nhau mà đứng độc lập ở hai hàng đầu, vì ⟨mj⟩ gồm hai ký tự). Trong trò chơi ô ch, ⟨dž⟩, ⟨lj⟩, ⟨nj⟩ đều chiếm một ô vuông.
  • Nếu từ được viết với khoảng cách giữa các chữ, mỗi chữ ghép sẽ được viết như một đơn vị. Ví dụ: M J E NJ A Č N I C A.
  • Chữ ghép đứng đầu một từ sẽ chỉ được viết hoa chữ đầu tiên nếu từ không được viết hoa hoàn toàn: Njemačka ('Đức'), không phải NJemačka. Dạng viết hoa chỉ được sử dụng khi toàn bộ từ được viết hoa: NJEMAČKA.

Nguồn gốc[sửa | sửa mã nguồn]

Nhà ngôn ngữ học người Croatia Ljudevit Gaj

Hầu hết bảng chữ cái Latinh dành cho tiếng Croatia được tạo ra bởi Ljudevit Gaj, dựa trên bảng chữ cái tiếng Séc và tiếng Ba Lan, đồng thời bổ sung ⟨lj⟩, ⟨nj⟩ và ⟨dž⟩. Năm 1830, ông xuất bản cuốn sách Kratka osnova horvatsko-slavenskog pravopisanja ("Tóm tắt chính tả cơ bản của tiếng Croatia-Slav") ở Buda. Đó là quyển sách bình dân đầu tiên về chính tả ở Croatia. Nó không phải quyển sách đầu tiên về chính tả tiếng Croatia, vì trước đó đã có những cuốn sách của Rajmund Đamanjić (1639), Ignjat ĐurđevićPavao Ritter Vitezović. Trước đây người Croatia dùng bảng chữ cái Latinh, nhưng không thể hiện được hết các âm đặc biệt. Các bảng chữ cái khác được dùng trong thời kỳ này, nhiều nhất là bảng chữ cái tiếng Hungary, nhưng chúng được dùng một cách lộn xộn, không nhất quán.

Gaj lấy ý tưởng từ Pavao Ritter Vitezović và bảng chữ cái tiếng Séc, thể hiện mỗi âm chỉ bằng một chữ duy nhất. Bảng chữ cái của ông đã được bổ sung dạng chữ Kirin bởi Vuk Karadžić vài năm trước.[4]

Đuro Daničić đưa ra một đề xuất trong cuốn Rječnik hrvatskoga ili srpskoga jezika ("Từ điển tiếng Croatia hoặc Serbia") xuất bản năm 1880 rằng chữ ghép ⟨dž⟩, ⟨dj⟩, ⟨lj⟩ và ⟨nj⟩ nên được thay thế bằng các chữ đơn: ⟨ģ⟩, ⟨đ⟩, ⟨ļ⟩ và ⟨ń⟩. Ý kiến này đã được xem xét, tuy nhiên chỉ có chữ ghép ⟨dj⟩ được thay thế bằng chữ ⟨đ⟩ của Daničić, trong khi ⟨dž⟩, ⟨lj⟩ và ⟨nj⟩ vẫn được giữ nguyên.

Mã hóa dùng cho nhập liệu[sửa | sửa mã nguồn]

In 1990s, there was a general confusion about the proper character encoding to use to write text in Latin Croatian on computers.

  • An attempt was made to apply the 7-bit "YUSCII", later "CROSCII", which included the five letters with diacritics at the expense of five non-letter characters ([, ], {, }, @), but it was ultimately unsuccessful. Because the ASCII character @ sorts before A, this led to jokes calling it žabeceda (žaba=frog, abeceda=alphabet).
  • Other short-lived vendor-specific efforts were also undertaken.[nào?]
  • The 8-bit ISO 8859-2 (Latin-2) standard was developed by ISO.
  • MS-DOS introduced 8-bit encoding CP852 for Central European languages, disregarding the ISO standard.
  • Microsoft Windows spread yet another 8-bit encoding called CP1250, which had a few letters mapped one-to-one with ISO 8859-2, but also had some mapped elsewhere.
  • Apple's Macintosh Central European encoding does not include the entire Gaj's Latin alphabet. Instead, a separate codepage, called MacCroatian encoding, is used.
  • EBCDIC also has a Latin-2 encoding.[5]

The preferred character encoding for Croatian today is either the ISO 8859-2, or the Unicode encoding UTF-8 (with two bytes or 16 bits necessary to use the letters with diacritics). However, tính đến năm 2010, one can still find programs as well as databases that use CP1250, CP852 or even CROSCII.

Digraphs ⟨dž⟩, ⟨lj⟩ and ⟨nj⟩ in their upper case, title case and lower case forms have dedicated UNICODE code points as shown in the table below, However, these are included chiefly for backwards compatibility (with legacy encodings which kept a one-to-one correspondence with Cyrillic); modern texts use a sequence of characters.

Sequence UNICODE point UNICODE glyph
U+01C4 DŽ
U+01C5 Dž
U+01C6 dž
LJ U+01C7 LJ
Lj U+01C8 Lj
lj U+01C9 lj
NJ U+01CA NJ
Nj U+01CB Nj
nj U+01CC nj

Usage for Slovene[sửa | sửa mã nguồn]

Since the early 1840s, Gaj's alphabet was increasingly used for the Slovene language. In the beginning, it was most commonly used by Slovene authors who treated Slovene as a variant of Serbo-Croatian (such as Stanko Vraz), but it was later accepted by a large spectrum of Slovene-writing authors. The breakthrough came in 1845, when the Slovene conservative leader Janez Bleiweis started using Gaj's script in his journal Kmetijske in rokodelske novice ("Agricultural and Artisan News"), which was read by a wide public in the countryside. By 1850, Gaj's alphabet (known as gajica in Slovene) became the only official Slovene alphabet, replacing three other writing systems which circulated in the Slovene Lands since the 1830s: the traditional bohoričica (after Adam Bohorič who codified it) and the two innovative proposals by the Peter Dajnko (the dajnčica) and Franc Serafin Metelko (the metelčica).

The Slovene version of Gaj's alphabet differs from the Serbo-Croatian one in several ways:

  • The Slovene alphabet does not have the characters ⟨ć⟩ and ⟨đ⟩; the sounds they represent do not occur in Slovene.
  • In Slovene, the digraphs ⟨lj⟩ and ⟨nj⟩ are treated as two separate letters and represent separate sounds (the word polje is pronounced [ˈpóːljɛ] or [pɔˈljéː] in Slovene, as opposed to [pôʎe] in Serbo-Croatian).
  • While the phoneme /dʒ/ exists in modern Slovene and is written ⟨dž⟩, it is used in only borrowed words and so ⟨d⟩ and ⟨ž⟩ are considered separate letters, not a digraph.

Slovene orthography is comparatively less phonetic than Serbo-Croatian [cần dẫn nguồn]. For instance, letter ⟨e⟩ can be pronounced in four ways (/eː/, /ɛ/, /ɛː/ and /ə/), and letter ⟨v⟩ in two ([ʋ] and [w], though the difference is not phonemic). Also, it does not record consonant voicing assimilation: compare e.g. Slovene ⟨odpad⟩ and Serbo-Croatian ⟨otpad⟩ ('junkyard', 'waste').

Usage in Macedonian[sửa | sửa mã nguồn]

Romanization of Macedonian is done according to Gaj's Latin alphabet[6][7] but is slightly modified. Gaj's ć and đ are not used at all, with and ǵ introduced instead. The rest of the letters of the alphabet are used to represent the equivalent Cyrillic letters. Also, Macedonian uses the letter dz, which is not part of the Serbo-Croatian phonemic inventory. However, the backs of record sleeves published in the former Yugoslavia (such as Mizar's debut album) used ć and đ, like other places.

See also[sửa | sửa mã nguồn]

Sources[sửa | sửa mã nguồn]

  • Vladimir Anić, Ljiljana Jojić, Ivo Pranjković (2003). Pravopisni priručnik - dodatak Velikom rječniku hrvatskoga jezika (bằng tiếng Croatian). 
  • Vladimir Anić, Josip Silić, Radoslav Katičić, Dragutin Rosandić, Dubravko Škiljan (1987). Pravopisni priručnik hrvatskoga ili srpskoga jezika (bằng tiếng Croatian và Serbian). 

References[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ phát âm tiếng Serbia-Croatia: [abetsěːda, latǐnitsa, ɡǎjitsa], Slovene: [ˈɡáːjitsa]
  2. ^ Žagarová, Margita; Pintarić, Ana (tháng 7 năm 1998). “On some similarities and differences between Croatian and Slovakian”. Linguistics (bằng tiếng Croatian) (Faculty of Philosophy, University of Osijek) 1 (1): 129–134. ISSN 1331-7202. Truy cập ngày 18 tháng 4 năm 2012. 
  3. ^ “Ortografija” (PDF). Jezične vježbe (bằng tiếng Croatian). Faculty of Philosophy, University of Pula. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 14 tháng 3 năm 2012. Truy cập ngày 18 tháng 4 năm 2012. 
  4. ^ Comrie, Bernard; Corbett, Greville G. (1 tháng 9 năm 2003). The Slavonic Languages. Taylor & Francis. tr. 45. ISBN 978-0-203-21320-9. Truy cập ngày 23 tháng 12 năm 2013. ... following Vuk's reform of Cyrillic (see above) in the early nineteenth century, Ljudevit Gaj in the 1830s performed the same operation on Latinica,... 
  5. ^ Host Code Page 1153/1375 Latin 2 – EBCDIC Multilingual
  6. ^ Lunt, H. (1952), Grammar of the Macedonian literary language, Skopje.
  7. ^ Macedonian Latin alphabet, Pravopis na makedonskiot literaturen jazik, B. Vidoeski, T. Dimitrovski, K. Koneski, K. Tošev, R. Ugrinova Skalovska - Prosvetno delo Skopje, 1970, p.99

External links[sửa | sửa mã nguồn]