Bộ Cá đuối điện

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

{{Bảng phân loại | fossil_range = {{Fossil range|Eocene|Recent|ref=Lỗi chú thích: Không có </ref> để đóng thẻ <ref> Có 69 loài được chia ra hai họ.

Các thành viên được biết đến nhiều nhất thuộc chi Torpedo. Tên của chi này xuất phát từ tiếng Latin torpere, nghĩa là "làm tê liệt" hoặc "làm cứng đờ".

Với con người[sửa | sửa mã nguồn]

Khả năng phát điện của cá đuối điện đã được biết đến từ thời cổ đại. Người Hy Lạp dùng cá đuối điện để làm tê sự đau đớn vì sinh con.[1] Dòng điện của cá đuối điện thông thường đã được một thầy thuốc La Mã là Scribonius Largus ghi nhận có tác dụng chữa bệnh đau nhức đầu và gout trong cuốn sách của ông mang tựa Compositiones Medicae vào năm 46.[2]

Phân loại[sửa | sửa mã nguồn]

Khoảng 60 loài cá đuối điện được nhóm thành 12 chi trong 2 họ.[3][4]

Một số loài cá đuối điện[sửa | sửa mã nguồn]

Tại Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Ở Việt Nam có các loài sau

Loài cá đuối điện Bắc Bộ (Narcine tonkinensis) được ghi trong Sách đỏ Việt Nam[5], nhưng không thấy ghi nhận trong FishBase.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên martin
  2. ^ Theodore Holmes Bullock; Carl D. Hopkins; Richard R. Fay (ngày 28 tháng 9 năm 2006). Electroreception. Springer Science & Business Media. tr. 6. ISBN 978-0-387-28275-6.
  3. ^ Nelson, J.S. (2006). Fishes of the World . John Wiley. tr. 69–82. ISBN 0-471-25031-7.
  4. ^ Compagno L.J.V., P.R. Last, J.D. Stevens, M.N.R. Alava, 2005. Checklist of Philippine Chondrichthyes. CSIRO Marine Laboratories, Rept. 243. 101 tr.
  5. ^ Cá đuối điện Bắc Bộ

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]