Bossa nova

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Bossa nova rhythm[1]

Bossa nova là một thể loại âm nhạc Brasil, với nghĩa là "xu hướng mới" (new trend) (phát âm tiếng Bồ Đào Nha[ˈbɔsɐ ˈnɔvɐ]  (Speaker Icon.svg nghe)). Loại nhạc này dựa trên một sự kết hợp trữ tình (lyrical fusion) giữa việc đặt trong tâm vào giai điệu samba mềm mại, uyển chuyển theo âm nhạc truyền thống của Brasil nhưng ít hơn về bộ gõnhạc jazz Mỹ lẫn phong cách mới trong ca từ Bồ Đào Nha.

Từ nguyên[sửa | sửa mã nguồn]

Diagram for Bossa nova's Etymology

Tại Brazil, từ "bossa" là một tiếng lóng kiểu cũ cho một cái gì đó được thực hiện với sự quyến rũ đặc biệt, sự tinh tế tự nhiên hay khả năng bẩm sinh. Ngay từ năm 1932, Noel Rosa được sử dụng các từ trong một samba:

"O samba, a prontidão e outras bossas são nossas coisas, são coisas nossas." ("The samba, the readiness and other bossas are our things, are things from us.")

Nguồn gốc chính xác của thuật ngữ "bossa nova" vẫn còn chưa rõ ràng trong nhiều thập kỷ, theo một số tác giả. Trong nền văn hóa nghệ thuật của bãi biển vào cuối năm 1950 trong Rio de Janeiro, thuật ngữ "bossa" được dùng để chỉ bất kỳ "xu hướng" mới hay "làn sóng thời trang" (fashionable wave). Trong cuốn sách Bossa Nova, tác giả Brazil Ruy Castro khẳng định rằng "bossa" đã được sử dụng vào những năm 1950 bởi các nhạc sĩ như một từ để mô tả sở trường của một ai đó để chơi hoặc hát theo phong cách riêng (idiosyncratically).[2] Castro cho rằng rằng thuật ngữ "bossa nova" có thể lần đầu tiên được sử dụng trong công chúng cho một buổi hòa nhạc trình bày trong năm 1957 bởi các Grupo Universitario Hebraico do Brasil (Đại học Hebrew Nhóm của Brasil). Quyền tác giả của thuật ngữ "bossa nova" được gán cho nhà báo trẻ lúc bấy giờ (then) Moyses Fuks, người đã quảng bá sự kiện này.[3] Nhóm đó bao gồm Sylvia Telles, Carlinhos Lyra, Nara Leão, Luizinho Eça, Roberto Menescal và những người khác (et al). Theo mô tả của ông Fuks, được hỗ trợ đầy đủ bởi hầu hết các thành viên bossa nova, ông chỉ đơn giản là viết một dấu hiệu như "HOJE. SYLVIA TELLES E UM GRUPO BOSSA NOVA" (nghĩa là: Hôm nay. Sylvia Telles và một nhóm "Bossa Nova"), vì Sylvia Telles là nhạc sĩ nổi tiếng nhất trong nhóm tại thời điểm đó. Năm 1959, Nara Leão cũng tham gia nhiều hơn một màn trình diễn phôi thai (embryonic display) của bossa nova. Nó bao gồm lễ hội đầu tiên "Festival de Samba Session", được tiến hành bởi hội sinh viên của PUC (Pontifica Universidade Católica). Hội này sau đó được chủ trì bởi Carlos Diegues, một sinh viên luật mà sau cùng kết hôn với Leão.[4]

Nguồn gốc[sửa | sửa mã nguồn]

Bossa nova đã bắt đầu được biết đến và phổ biến trong những năm 1950 và 1960 (đỉnh cao là năm 1957 và 1963) trên các bãi biển nhiệt đới của phía nam Rio de Janeiro, khi một nhóm các sinh viên thuộc tầng lớp trung lưu, các nghệ sĩnhạc sĩ trẻ đến với nhau để tạo ra một thứ âm thanh mới.[5] Bởi thế mà, bossa nova có nghĩa là "xu hướng mới”. "Chega de Saudade" (No More Blues) do Tom JobimVinicius de Moraes biểu diễn được coi là bài hát Bossa Nova đầu tiên.

Nội dung[sửa | sửa mã nguồn]

Chủ đề[sửa | sửa mã nguồn]

Các chủ đề tìm thấy trong Bossa nova bao gồm các nội dung xoay quanh cuộc sống thường nhật, vẻ đẹp giai nhân phụ nữ, tình yêu, tuổi trẻ, khao khát, nỗi nhớ nhà, thiên nhiên trù phú, biển cả mênh mông. Phong trào Bossa nova này đã được tổ chức chủ yếu bởi những người rất trẻ, họ đã chọn sáng tác nhạc lạc quan, tươi mới hơn để mô tả về thế hệ trẻ của họ trái ngược với những buồn bã, đau khổ trong giai điệu và ca từ của những bài hát từ những thập niên trước. Bossa Nova được xem là một kỷ niệm đẹp của tuổi trẻ lãng mạn, mới mẻ và văn hóa bãi biển rất tropical. Bossa Nova còn được xem là biểu tượng của thành phố Rio de Janeiro.

Ca từ và giai điệu[sửa | sửa mã nguồn]

Bossa Nova mang lại một kết hợp phức tạp của giai điệu, hòa âm và nhịp điệu với những ca từ phức tạp hơn nhưng lại gắn liền với cuộc sống hàng ngày. Sự lạc quan và nhịp điệu mê hoặc được tìm thấy trong Bossa Nova đã làm say đắm và làm ảnh hưởng đến nhiều ca sĩ và nhà soạn nhạc trên toàn thế giới.. Bossa Nova ngày nay không còn là thể loại âm nhạc phổ biến nhất tại Brasil, nó đã được biết đến và được yêu thích trên toàn thế giới.

Nghệ sĩ sáng lập và biểu diễn[sửa | sửa mã nguồn]

Bossa nova thường gắn với các cái tên nhạc sĩ nổi tiếng như ca sĩ, nhạc sĩ Antonio Carlos Jobim (một trong những cha đẻ của Bossa Nova), João Gilberto là nhạc sĩ và chơi guitar acoustic, Roberto Menescal chơi guitar jazz (người sáng lập và định hướng phát triển cho Bossa nova), Vinicius de MoraesLuiz Bonfá,...

Nhạc cụ[sửa | sửa mã nguồn]

Trong một bài bossa nova ta thường thấy sự có mặt của guitar cổ điển, piano, organ điện tử, contrabass, saxophone, clarinet và trống cổ điển, bộ gõ.

So sánh Samba và Bossa nova[sửa | sửa mã nguồn]

Tiêu chí Samba Bossa nova
Nhạc cụ Dùng bộ gõ (percussions/drums) rất nhiều Ít dùng bộ gõ hơn
Giai điệu Sôi nổi dồn dập Nhịp nhàng, nhẹ nhàng chậm, có chút rũ rượi, có chút lâng lâng
Cảm giác Cuồng chân chỉ muốn bước ra sàn nhảy ngay lập tức Đang mơ màng như người đi trên mây, im lặng thưởng thức tiếng saxo hoặc tiếng clarinet vừa đau nhói vừa dịu xoa len lỏi vào tận góc tim.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Blatter, Alfred (2007). Revisiting music theory: a guide to the practice, p.28. ISBN 0-415-97440-2.
  2. ^ Castro, Ruy (transl. by Lysa Salsbury). Bossa Nova: The Story of the Brazilian Music That Seduced the World. 2000. 1st English language edition. A Capella Books, an imprint of Chicago Review Press, Inc. ISBN 1-55652-409-9 First published in Brasil by Companhia das Letras (1990)
  3. ^ "Moyses Fuks"
  4. ^ "Nara Leão"
  5. ^ Mariana Garcia (ngày 10 tháng 7 năm 2006). “A estética da bossa nova (The aesthetics of Bossa Nova)” (bằng tiếng Bồ Đào Nha). Com Ciência. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 2 năm 2014. Truy cập ngày 29 tháng 9 năm 2014. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Bản mẫu:Jazz