Cá trích mình dày

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Cá trích mình dày
AlosaMediocris.jpg
Phân loại khoa học
Giới (regnum)Animalia
Ngành (phylum)Chordata
Lớp (class)Actinopterygii
Bộ (ordo)Clupeiformes
Họ (familia)Clupeidae
Phân họ (subfamilia)Alosinae
Chi (genus)Alosa
H. F. Linck, 1790
Các loài
Xem trong bài.
Danh pháp đồng nghĩa

Caspialosa

Pomolobus

Cá trích mình dày hay cá trích sông (Danh pháp khoa học: Alosa) là một chi trong Họ Cá trích. Chúng rất khác biệt với các loài trong họ bằng việc có một cơ thể dày hơn và sinh sản ở các con sông. Một số loài có thể được tìm thấy trên cả hai mặt của Đại Tây Dương và Địa Trung Hải. Alosa cũng có thể được tìm thấy trên khắp vùng biển Caspian. Nhiều cá thể được tìm thấy trong vùng nước ngọt trong mùa sinh sản và một số chỉ được tìm thấy trong vùng nước ngọt nơi đất liền.

Đặc điểm[sửa | sửa mã nguồn]

Hầu hết các loài Alosa nặng 300 gram (11 oz) hoặc ít hơn, với một loài, Alosa pontica, trọng lượng lên đến 2 kg. Alosa nói chung là cá nổi chúng chủ yếu là bơi ngược sông loài Alosa thường di cư, chúng đẻ trứng vào cuối mùa xuân đến mùa hè. Hầu hết các cá thể bị chết ngay sau khi sinh sản. Tuổi thọ của loài Alosa có thể lên đến 10 năm, nhưng điều này thường không phổ biến, vì nhiều chết sau khi đẻ trứng.

Cá mòi dầu được cho là duy nhất trong số các loài cá trong việc tiến hóa khả năng phát hiện siêu âm (âm thanh ở tần số trên 20 kHz, đó là giới hạn của người nghe). Điều này lần đầu tiên được phát hiện bởi các nhà sinh học thủy sản nghiên cứu một loại cá mòi dầu biết như cá trích lưng lam. Khả năng này được cho là để giúp chúng tránh mặt cá heo mà cách săn mồi tìm thấy con mồi bằng cách sử dụng vị bằng tiếng vang.

Các loài[sửa | sửa mã nguồn]

Thư viện ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Dữ liệu liên quan tới Cá trích mình dày tại Wikispecies
  • Sepkoski, Jack (2002). "A compendium of fossil marine animal genera". Bulletins of American Paleontology 364: p. 560. Truy cập 2007-12-31
  • Mann, D. A.; Higgs, D. M.; Tavolga, W. N.; Souza, M. J.; and Popper, A. N. (2001). Ultrasound detection by clupeiform fishes. Journal of the Acoustical Society of America 109:3048–3054
  • D. C. Bobori, E. T. Koutrakis and P. S. Economidis (2001). "Shad Species In Greek Waters – An Historical Overview And Present Status" (PDF). Bulletin Français De La Pêche Et De La Pisciculture. 362-363: 1101–1108. Truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2014.
  • Lochet, A., S. Boutry, and E. Rochard. Estuarine Phase during Seaward Migration for Allis Shad Alosa Alosa and Twaite Shad Alosa Fallax Future Spawners. Ecology of Freshwater Fish 18 (2009): 323-35.
  • Malkin, E. M., and S. B. Andrianova. Biology and Traits of the Formation of Stock of Big-eyed Shad Alosa Saposchnikowii. Journal of Ichthyology 48.6 (2008): 443-51.
  • Froese, Rainer, and Daniel Pauly, eds. (2011). Species of Alosa in FishBase. June 2011 version.