Bước tới nội dung

Công tác xã hội

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Công tác xã hội
Nghề nghiệp
Lĩnh vực hoạt động
Phúc lợi xã hội, dịch vụ xã hội, chính phủ, y tế, y tế công cộng, sức khỏe tâm thần, an toàn và sức khỏe nghề nghiệp, tổ chức cộng đồng, tổ chức phi lợi nhuận, pháp luật, trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, nhân quyền
Mô tả
Yêu cầu năng lựcCải thiện môi trường xã hội và nâng cao phúc lợi của con người thông qua việc huy động và phát triển các nguồn lực
Môi trường
làm việc
Dịch vụ bảo vệ trẻ em và phụ nữ, tổ chức phi lợi nhuận, cơ quan nhà nước, trung tâm hỗ trợ các nhóm yếu thế, bệnh viện, trường học, nhà thờ, cơ sở tạm trú, tổ chức cộng đồng, cơ quan hoạch định xã hội, viện nghiên cứu chính sách, cơ quan cải huấn, dịch vụ lao động và công nghiệp

Công tác xã hội là một ngành học thuật và nghề thực hành, hướng đến việc đáp ứng các nhu cầu cơ bản của cá nhân, gia đình, nhóm, cộng đồng và toàn xã hội nhằm nâng cao phúc lợi của cá nhân và cộng đồng.[1][2] Thực hành công tác xã hội vận dụng kiến thức từ khoa học nhân văn, khoa học xã hội và các lĩnh vực liên ngành như tâm lý học, xã hội học, y tế, khoa học chính trị, phát triển cộng đồng, luật pháp và kinh tế học để làm việc với các hệ thống và chính sách, tiến hành đánh giá, xây dựng các biện pháp can thiệp, đồng thời nâng cao chức năng xã hội và trách nhiệm xã hội. Mục tiêu cuối cùng của công tác xã hội là nâng cao chất lượng cuộc sống của con người, giảm thiểu các vấn đề sinh học, tâm lý và xã hội, tăng cường năng lực cho cá nhân và cộng đồng, đồng thời thúc đẩy cải cách xã hội.[3]

Lịch sử

[sửa | sửa mã nguồn]
Một khu ổ chuột ở Marylebone, Anh vào thế kỷ 19

Hoạt động và nghề công tác xã hội có nguồn gốc khá hiện đại và mang tính khoa học, và nhìn chung được cho là phát triển từ ba nền tảng chính.[4]

Nền tảng đầu tiên là công tác xã hội với cá nhân, một phương pháp do Hiệp hội các tổ chức từ thiện (COS) tiên phong phát triển vào giữa thế kỷ XIX. Tổ chức này được Helen Bosanquet và Octavia Hill thành lập tại Luân Đôn, Anh.[5] Đa số các nhà sử học xem COS là tổ chức tiên phong trong việc hình thành lý thuyết xã hội, đặt nền móng cho sự ra đời của công tác xã hội với tư cách là một nghề chuyên nghiệp.[6] Hiệp hội các tổ chức từ thiện chủ yếu tập trung vào công tác xã hội với cá nhân.

Nền tảng thứ hai là quản trị xã hội, bao gồm nhiều hình thức cứu trợ người nghèo. Hoạt động cứu trợ người nghèo trên phạm vi nhà nước được cho là bắt nguồn từ các đạo luật người nghèo của Anh vào thế kỷ XVII, nhưng chỉ đến khi COS tham gia thì mới được tổ chức và thực hiện một cách có hệ thống.

Nền tảng thứ ba là hành động xã hội. Khác với việc chỉ tập trung giải quyết những khó khăn trước mắt của từng cá nhân, hướng tiếp cận này nhấn mạnh hành động về mặt xã hội và chính trị, thông qua cộng đồng và các nhóm xã hội nhằm cải thiện điều kiện sống, từ đó góp phần giảm nghèo. Cách tiếp cận này ban đầu được phát triển bởi phong trào Nhà Định cư.[6]

Đồng thời, còn có một nền tảng khác khó định nghĩa hơn, đó là sự phát triển của các thiết chế chuyên trách giải quyết toàn bộ các vấn đề xã hội. Tất cả những xu hướng này đều phát triển mạnh mẽ trong thế kỷ XIX và tạo nền tảng cho sự hình thành của công tác xã hội hiện đại, cả trên phương diện lý luận và thực hành.[7]

Công tác xã hội với tư cách là một nghề chuyên nghiệp ra đời ở nước Anh vào thế kỷ XIX, bắt nguồn từ những biến động kinh tế – xã hội do cách mạng công nghiệp tạo ra. Đặc biệt, nghề này hình thành trong bối cảnh xã hội phải đối mặt với tình trạng nghèo đói quy mô lớn tại các đô thị cùng những vấn đề phát sinh từ quá trình đô thị hóa. Do nghèo đói là trọng tâm của công tác xã hội trong giai đoạn đầu, lĩnh vực này có mối liên hệ mật thiết với hoạt động từ thiện.[7]

Những nhân vật lịch sử quan trọng khác góp phần định hình sự phát triển của nghề công tác xã hội gồm có Jane Addams, người sáng lập Hull House tại Chicago và được trao giải Nobel Hòa bình năm 1931; Mary Ellen Richmond, tác giả cuốn Social Diagnosis, một trong những giáo trình đầu tiên về công tác xã hội tích hợp kiến thức từ luật học, y học, tâm thần học, tâm lý học và lịch sử; cùng William Beveridge, người đặt nền móng cho nhà nước phúc lợi và định hình các cuộc tranh luận về công tác xã hội trong bối cảnh cung cấp phúc lợi xã hội.

Vai trò và chức năng

[sửa | sửa mã nguồn]

Trong lĩnh vực sức khỏe tâm thần, nhân viên công tác xã hội đảm nhiệm nhiều vai trò khác nhau, bao gồm quản lý ca, biện hộ, quản trị và trị liệu. Các chức năng chính của nhân viên công tác xã hội trong lĩnh vực tâm thần bao gồm thúc đẩy sức khỏe cũng như phòng ngừa, điều trị và phục hồi chức năng. Ngoài ra, nhân viên công tác xã hội cũng có thể hành nghề trong các lĩnh vực sau:

  • Tham vấn và tâm lý trị liệu
  • Quản lý ca và cung cấp dịch vụ hỗ trợ
  • Can thiệp khủng hoảng
  • Giáo dục tâm lý
  • Phục hồi chức năng tâm thần và hỗ trợ quá trình hồi phục
  • Điều phối và giám sát chăm sóc
  • Quản lý và điều hành chương trình
  • Xây dựng chương trình, chính sách và phát triển nguồn lực
  • Nghiên cứu và đánh giá

Nhân viên công tác xã hội tâm thần thực hiện đánh giá tâm lý – xã hội đối với người bệnh, đồng thời tăng cường sự phối hợp và trao đổi thông tin giữa người bệnh, gia đình và các thành viên trong nhóm chăm sóc sức khỏe. Họ thúc đẩy sự hợp tác liên ngành nhằm bảo đảm người bệnh được tiếp cận với dịch vụ chăm sóc có chất lượng và tham gia tích cực vào quá trình lập kế hoạch điều trị, chăm sóc. Tùy theo nhu cầu của từng trường hợp, nhân viên công tác xã hội có thể tham gia giáo dục sức khỏe, tham vấn và tâm lý trị liệu. Bên cạnh đó, họ giữ vai trò quan trọng trong quá trình chăm sóc sau điều trị, hỗ trợ người bệnh chuyển tiếp thuận lợi từ cơ sở điều trị trở về gia đình và tái hòa nhập cộng đồng.[8]

Sức khỏe tâm thần của nhân viên công tác xã hội

[sửa | sửa mã nguồn]

Nhiều nghiên cứu đã cho thấy nhân viên công tác xã hội có nguy cơ cao mắc các rối loạn tâm thần phổ biến, phải nghỉ làm dài hạn do bệnh lý tâm thần và sử dụng thuốc chống trầm cảm.[9][10][11][12][13] Một nghiên cứu tại Thụy Điển cho thấy nhân viên công tác xã hội có nguy cơ được chẩn đoán mắc trầm cảm, rối loạn lo âu và các rối loạn liên quan đến căng thẳng cao hơn so với người lao động ở các ngành nghề khác.[9] Nguy cơ này vẫn duy trì ở mức cao ngay cả khi so sánh với các nghề khác trong nhóm dịch vụ nhân sinh.[9][11][10] Trong đó, những nhân viên công tác xã hội làm việc trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe tâm thần hoặc đánh giá nhu cầu hỗ trợ là nhóm dễ bị ảnh hưởng nhất.[9]

Có nhiều cách giải thích cho nguy cơ gia tăng này. Ở cấp độ cá nhân, các yếu tố bao gồm căng thẳng sang chấn thứ cấp,[14] mệt mỏi do lòng trắc ẩn[14] và việc những người vốn dễ bị tổn thương lựa chọn theo nghề công tác xã hội.[15] Ở cấp độ tổ chức, áp lực công việc cao,[15][16] văn hóa tổ chức và tình trạng quá tải công việc[14] được xem là những yếu tố góp phần quan trọng.

Nguy cơ này khác nhau giữa hai giới.[10][13] So với những người cùng giới làm việc trong các ngành nghề khác, mức gia tăng nguy cơ ở nam nhân viên công tác xã hội cao hơn so với nữ.[9][10] Cụ thể, nam nhân viên công tác xã hội có nguy cơ được chẩn đoán mắc trầm cảm hoặc rối loạn lo âu cao hơn 70% so với nam giới trong các ngành nghề khác.[9] Trong khi đó, ở nữ giới, nguy cơ này cao hơn 20% so với những người cùng giới làm việc ở các ngành nghề khác.[9] Một cách giải thích là tỷ lệ hiện mắc các rối loạn tâm thần phổ biến vốn đã cao ở phụ nữ và thấp hơn ở nam giới trong dân số nói chung.[17] Một giả thuyết khác cho rằng nam giới làm việc trong các môi trường có cơ cấu giới tính cân bằng có xu hướng tìm kiếm sự hỗ trợ từ các dịch vụ chăm sóc sức khỏe thường xuyên hơn so với nam giới làm việc trong các ngành nghề mà lao động nam chiếm đa số.[18]

Đọc thêm

[sửa | sửa mã nguồn]
  • Agnew, Elizabeth N. (2004). From Charity to Social Work: Mary E. Richmond and the Creation of an American Profession. Urbana, IL: University of Illinois Press. ISBN 0-252-02875-9. OCLC 51848398.
  • Brody, Ralph; Nair, Murali (2013). Effectively Managing and Leading Human Service Organizations. SAGE Publications. ISBN 978-1-4833-1497-6.
  • Davies, Martin (2002). The Blackwell Companion of Social Work (ấn bản thứ 2). Oxford, UK; Malden, MA: Blackwell. ISBN 0-631-22391-6. OCLC 49044512.
  • Greene, Roberta R. (2008). Social Work with the Aged and their Families (ấn bản thứ 3). New Brunswick, NJ: Transaction Publishers. ISBN 978-0-202-36182-6. OCLC 182573540.
  • Jansson, Bruce S. (2017). Empowerment Series: Becoming An Effective Policy Advocate. Cengage Learning. ISBN 978-1-337-51433-0.
  • Linfield, Kenneth J.; Posavac, Emil J. (2018). Program Evaluation: Methods and Case Studies. Routledge. ISBN 978-1-351-59201-7.
  • Mizrahi, Terry; Davis, Larry E. (2008). Encyclopedia of Social Work (ấn bản thứ 20). Washington, DC; Oxford, UK; New York, NY: NASW Press and Oxford University Press. ISBN 978-0-19-530661-3. OCLC 156816850.
  • Ruffolo, Mary Carmel; Perron, Brian E; Voshel, Elizabeth H (2015). Direct Social Work Practice: Theories and Skills for Becoming an Evidence-Based Practitioner (ấn bản thứ 1). Los Angeles: SAGE Publications. ISBN 978-1-4833-7924-1.
  • Sowers, Karen M.; Dulmus, Catherine N.; và đồng nghiệp (2008). Comprehensive Handbook of Social Work and Social Welfare. Hoboken, NJ: John Wiley & Sons. ISBN 978-0-471-75222-6. OCLC 155755265.
  • Statham, Daphne (2004). Managing Front Line Practice in Social Work. New York, NY: Jessica Kingsley Publishers. ISBN 1-4175-0127-8. OCLC 54768593.

Tham khảo

[sửa | sửa mã nguồn]
  1. ↑ "What is Social Work?" (bằng tiếng Anh). Canadian Association of Social Workers. ngày 6 tháng 5 năm 2011. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 7 năm 2018. Truy cập ngày 13 tháng 5 năm 2019. Social work is a profession concerned with helping individuals, families, groups and communities to enhance their individual and collective well-being.
  2. ↑ "Global Definition of Social Work" (bằng tiếng Anh). International Federation of Social Workers. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 3 năm 2018. Truy cập ngày 13 tháng 5 năm 2019. The following definition was approved by the IFSW General Meeting and the IASSW General Assembly in July 2014: [...] 'Social work is a practice-based profession and an academic discipline that promotes social change and development, social cohesion, and the empowerment and to of liberation of people. [...]'
  3. ↑ Zastrow, Charles (ngày 14 tháng 9 năm 1990). "Social Workers and Salesworkers:: Similarities and Differences". Journal of Independent Social Work. 4 (3): 7–16. doi:10.1300/j283v04n03_02.
  4. ↑ Huff, Dan. "From Charity to Reform: Social Work's Formative Years". Global Institute of Social Work. Boise State University. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 3 năm 2022. Truy cập ngày 29 tháng 7 năm 2020.
  5. ↑ "1800s". Family Action: About Us. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 7 năm 2011. Truy cập ngày 17 tháng 11 năm 2010.
  6. 1 2 Lymbery, Mark (2005). "The History and Development of Social Work" (PDF). Social Work with Older People: Context, Policy and Practice. tr. 35–54. doi:10.4135/9781446211687.n3. ISBN 978-1-4129-0205-2.
  7. 1 2 Popple, Philip R.; Leighninger, Leslie (2011). Social Work, Social Welfare, and American Society. Allyn & Bacon. ISBN 978-0-205-79383-9.[cần số trang]
  8. ↑ Heinonen, Tuula; Metteri, Anna (2005). Social Work in Health and Mental Health: Issues, Developments, and Actions. Canadian Scholars’ Press. ISBN 978-1-55130-278-2.[cần số trang]
  9. 1 2 3 4 5 6 7 Knihs de Camargo, Carolina; Falkstedt, Daniel; Pan, Kuan-Yu; Almroth, Melody; Nevriana, Alicia (ngày 15 tháng 6 năm 2024). "Diagnoses of common mental disorders among social workers in Sweden: A register-based cohort study". Journal of Affective Disorders. 355: 415–421. doi:10.1016/j.jad.2024.03.170. ISSN 0165-0327. PMID 38570040.
  10. 1 2 3 4 Wieclaw, J.; Agerbo, E.; Mortensen, P. B.; Bonde, J. P. (ngày 1 tháng 5 năm 2006). "Risk of affective and stress related disorders among employees in human service professions". Occupational and Environmental Medicine (bằng tiếng Anh). 63 (5): 314–319. Bibcode:2006OccEM..63..314W. doi:10.1136/oem.2004.019398. ISSN 1351-0711. PMC 2092492. PMID 16621851.
  11. 1 2 Buscariolli, André; Kouvonen, Anne; Kokkinen, Lauri; Halonen, Jaana I.; Koskinen, Aki; Väänänen, Ari (ngày 1 tháng 6 năm 2018). "Human service work, gender and antidepressant use: a nationwide register-based 19-year follow-up of 752 683 women and men". Occupational and Environmental Medicine (bằng tiếng Anh). 75 (6): 401–406. doi:10.1136/oemed-2017-104803. hdl:10138/235270. ISSN 1351-0711. PMID 29374096.
  12. ↑ Rantonen, O.; Alexanderson, K.; Pentti, J.; Kjeldgård, L.; Hämäläinen, J.; Mittendorfer-Rutz, E.; Kivimäki, M.; Vahtera, J.; Salo, P. (tháng 12 năm 2017). "Trends in work disability with mental diagnoses among social workers in Finland and Sweden in 2005–2012". Epidemiology and Psychiatric Sciences (bằng tiếng Anh). 26 (6): 644–654. doi:10.1017/S2045796016000597. ISSN 2045-7960. PMC 6999035. PMID 27608540.
  13. 1 2 Rantonen, O.; Alexanderson, K.; Clark, A.J.; Aalto, V.; Sónden, A.; Brønnum-Hansen, H.; Hougaard, C.Ø.; Rod, N.H.; Mittendorfer-Rutz, E.; Kivimäki, M.; Oksanen, T.; Salo, P. (tháng 5 năm 2019). "Antidepressant treatment among social workers, human service professionals, and non-human service professionals: A multi-cohort study in Finland, Sweden and Denmark". Journal of Affective Disorders. 250: 153–162. doi:10.1016/j.jad.2019.03.037. hdl:10138/315577. PMID 30856492.
  14. 1 2 3 McFadden, Paula; Campbell, Anne; Taylor, Brian (tháng 7 năm 2015). "Resilience and Burnout in Child Protection Social Work: Individual and Organisational Themes from a Systematic Literature Review". British Journal of Social Work. 45 (5): 1546–1563. doi:10.1093/bjsw/bct210.
  15. 1 2 Madsen, Ida E. H.; Aust, Birgit; Burr, Hermann; Carneiro, Isabella Gomes; Diderichsen, Finn; Rugulies, Reiner (tháng 7 năm 2012). "Paid Care Work and Depression: A Longitudinal Study of Antidepressant Treatment in Female Eldercare Workers Before and After Entering Their Profession: Antidepressant Rates in Eldercare Workers". Depression and Anxiety (bằng tiếng Anh). 29 (7): 605–613. doi:10.1002/da.21940. PMID 22473936.
  16. ↑ Rantonen, O.; Alexanderson, K.; Pentti, J.; Kjeldgård, L.; Hämäläinen, J.; Mittendorfer-Rutz, E.; Kivimäki, M.; Vahtera, J.; Salo, P. (tháng 12 năm 2017). "Trends in work disability with mental diagnoses among social workers in Finland and Sweden in 2005–2012". Epidemiology and Psychiatric Sciences (bằng tiếng Anh). 26 (6): 644–654. doi:10.1017/S2045796016000597. ISSN 2045-7960. PMC 6999035. PMID 27608540.
  17. ↑ Farhane-Medina, Naima Z.; Luque, Bárbara; Tabernero, Carmen; Castillo-Mayén, Rosario (tháng 10 năm 2022). "Factors associated with gender and sex differences in anxiety prevalence and comorbidity: A systematic review". Science Progress (bằng tiếng Anh). 105 (4): 003685042211354. doi:10.1177/00368504221135469. ISSN 0036-8504. PMC 10450496. PMID 36373774.
  18. ↑ Milner, A.; Scovelle, A. J.; King, T. (tháng 12 năm 2019). "Treatment-seeking differences for mental health problems in male- and non-male-dominated occupations: evidence from the HILDA cohort". Epidemiology and Psychiatric Sciences (bằng tiếng Anh). 28 (6): 630–637. doi:10.1017/S2045796018000367. ISSN 2045-7960. PMC 6998979. PMID 30033889.

Liên kết ngoài

[sửa | sửa mã nguồn]