Cấu trúc Theta

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Hình 1: Sơ đồ động mô tả nhân đôi của ADN vòng kép. Quá trình nhân đôi bắt đầu tại vị trí duy nhất, tiến hành theo hai hướng, từ đó tạo thành cấu trúc Θ (theta). Sau đó hai ADN con tách rời nhau, mỗi con có một mạch gốc (màu xanh hoặc đỏ) của mẹ (đường đậm nét liền), còn một mạch mới (đường nhạt màu nét rời).

Cấu trúc Theta (thê-ta) là dạng cấu trúc trung gian của ADN vòng hình thành trong quá trình nhân đôi của phân tử này.[1] Ở dạng này, phân tử ADN vòng trông giống như hình θ là chữ theta trong các chữ cái ở tiếng Hy Lạp (hình 1).[2]

Lược sử và từ nguyên[sửa | sửa mã nguồn]

Hình 2: Plasmit nhân đôi theo cơ chế θ.

Trong khi nghiên cứu cơ chế nhân đôi của nhiễm sắc thể nhân sơ (ADN vùng nhân hay ADN-NST), nhà di truyền học John Cairns đã nhận thấy sự nhân đôi ADN của ADN-NST này diễn ra theo hai chiều cùng lúc, nhờ sử dụng thymidine phóng xạ (tritiated) và kỹ thuật phóng xạ tự chụp. Kết quả cho thấy thymidine phóng xạ đã xuất hiện ở cả hai nhánh khi nhân đôi.[3]

Khi nhân đôi như vậy, phân tử ADN vòng xuất hiện hai nhánh sao chép tiến hành độc lập và đồng thời trên "vòng" này đã tạo ra một dạng trông rất giống chữ cái "theta" của Hy Lạp,[4] vì thế gọi dạng xuất hiện trung gian này với tên gọi trên. Trong tiếng Anh, thuật ngữ này là Theta structure.[5][6]

Sau đó, cũng phát hiện dạng cấu trúc này ở cả các ADN vòng khác không phải ADN-NST, như plasmit (hình 2), miễn là có hai mạch vòng. Từ đó kiểu nhân đôi của phân tử ADN vòng kép nào có xuất hiện dạng cấu trúc này, thì được gọi là nhân đôi (kiểu) theta (Theta replication).[7]

Cơ chế[sửa | sửa mã nguồn]

Escherichia coli, ADN-NST của nó bắt đầu nhân đôi từ điểm ori C. Điểm này gồm khoảng 245 bp và chứa ba chuỗi lặp lại 13 bp và bốn chuỗi lặp lại 9 bp. Khi các enzym ADN polymeraza di chuyển từ điểm này theo hai hướng ngược nhau đến điểm TER (chấm dứt nhân đôi), thì đến khoảng giữa của ADN này sẽ xuất hiện dạng theta. Vào thời điểm này cấu trúc theta chỉ thoáng qua, trong đó, các chạc chữ Y (replication forks) vẫn đang tồn tại và di chuyển rồi cả hai chạc này đều sẽ gặp nhau tại vị trí TER.[8]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Nguồn trích dẫn[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Sambamurty, A. V. S. S. (2005). Genetics. Alpha Science Int'l Ltd. tr. 780. 
  2. ^ B, Arusha. “Theta Structure of DNA (With Diagram)”. Biology Discussion. 
  3. ^ Griffiths, AJF và đồng nghiệp (2000). An Introduction to Genetic Analysis. 7th edition. W. H. Freeman. 
  4. ^ Sambamurty, A. V. S. S. (2005). Genetics. Alpha Science Int'l Ltd. tr. 780. 
  5. ^ Griffiths, AJF và đồng nghiệp (2000). An Introduction to Genetic Analysis. 7th edition. W. H. Freeman. 
  6. ^ B, Arusha. “Theta Structure of DNA (With Diagram)”. Biology Discussion. 
  7. ^ Joshua Lilly & Manel Camps. “Mechanisms of Theta Plasmid Replication”. 
  8. ^ “Theta Structure of DNA”.