Carlo Buonaparte
Carlo Buonaparte | |
|---|---|
| Quý tộc Patrician của Tuscany | |
Chân dung được vẽ bởi Anton Raphaël Mengs, 1766–1779 | |
| Thông tin chung | |
| Tên đầy đủ | Carlo Maria Buonaparte |
| Sinh | 27 tháng 03 năm 1746 Ajaccio, Corsica, Cộng hòa Genoa |
| Mất | 24 tháng 2 năm 1785 (38 tuổi) Montpellier, Vương quốc Pháp |
| An táng | Imperial Chapel, Ajaccio, Pháp |
| Gia tộc | Buonaparte |
| Phối ngẫu | |
| Hậu duệ Detail |
|
| Cha | Giuseppe Maria Buonaparte |
| Mẹ | Maria Saveria Paravicini |
Huy hiệu của Carlo Buonaparte | |
Carlo Maria Buonaparte hay Charles-Marie Bonaparte (27 tháng 03 năm 1746 [1] - 24 tháng 02 năm 1785) là một luật sư và nhà ngoại giao người Corsica, được biết đến nhiều nhất với tư cách là cha của Hoàng đế Napoléon I và ông nội của Hoàng đế Napoléon III.
Buonaparte phục vụ trong một thời gian ngắn với tư cách là trợ lý riêng cho nhà lãnh đạo cách mạng Pasquale Paoli, chiến đấu với lực lượng Corsica trong cuộc chinh phục Corsica của Pháp. Với việc hòn đảo bị chiếm đóng và cuộc kháng chiến bị đánh bại, Buonaparte cuối cùng đã vươn lên trở thành đại diện của Corsica trong triều đình Vua Louis XVI.
Hai mươi năm sau khi ông qua đời, con trai thứ hai còn sống của ông là Napoléon Bonaparte, trở thành Hoàng đế của Pháp; kéo theo đó, người nhà Bonaparte trở thành thành viên của Hoàng tộc Pháp và tiếp nhận ngai vàng khắp châu Âu, trong đó người con cả Joseph Bonaparte trở thành vua của Vương quốc Napoli và sau được đưa lên làm vua của Tây Ban Nha, người con gái đầu Élisa Bonaparte được phong làm Nữ thân vương xứ Lucca và Piombino và sau là Nữ đại Công tước xứ Toscana, người con trai thứ 3 Louis Napoléon Bonaparte được đưa lên làm vua của Vương quốc Holland, người con trai út là Jérôme Bonaparte trở thành vua của Vương quốc Westphalia. Sự xụp đổ ngôi vị Hoàng đế của Napoleon I đã làm cho hệ thống vương quyền của Nhà Bonaparte tan rã ở khắp châu Âu. Đến năm 1852, con trai của cựu vương xứ Holland là Louis-Napoléon Bonaparte mới phục hưng lại Nhà Bonaparte, lên ngôi hoàng đế và lập ra Đệ Nhị Đế chế Pháp, nhưng cũng chỉ tồn tại đến năm 1870.
Cuộc sống đầu đời
[sửa | sửa mã nguồn]Người Pháp tiếp quản Corsica
[sửa | sửa mã nguồn]Nổi lên
[sửa | sửa mã nguồn]Con cái
[sửa | sửa mã nguồn]Cuộc hôn nhân giữa Carlo Buonaparte và Letizia Ramolino đã sinh ra mười ba người con trong giai đoạn từ 1765 đến 1784; trong số đó năm người qua đời sớm (hai đứa trẻ chết khi mới sinh và ba đứa trẻ mất trong thời thơ ấu). Chỉ còn lại tám người con sống đến tuổi trưởng thành.
Danh sách các con:
- Napoleone Buonaparte (sinh và mất ngày 17 tháng 8 năm 1765).
- Maria Anna Buonaparte (3 tháng 1 năm 1767 – 1 tháng 1 năm 1768).
- Joseph Bonaparte (7 tháng 1 năm 1768 – 28 tháng 7 năm 1844), Quốc vương Napoli, Quốc vương Tây Ban Nha, và Bá tước xứ Survilliers; kết hôn ngày 1 tháng 8 năm 1794 với Marie Julie Clary.
- Napoléon Bonaparte (15 tháng 8 năm 1769 – 5 tháng 5 năm 1821), mang tên của người anh trai đã mất, về sau trở thành Hoàng đế nước Pháp; kết hôn lần thứ nhất ngày 9 tháng 3 năm 1796 với Joséphine de Beauharnais, và lần thứ hai ngày 2 tháng 4 năm 1810 với Marie-Louise, Nữ Đại Vương Công Áo.
- Maria Anna Buonaparte (14 tháng 7 năm 1771 – 23 tháng 11 năm 1771), được đặt tên theo các chị đã mất.
- Một thai nhi chết lưu (1773).
- Lucien Bonaparte (21 tháng 5 năm 1775 – 29 tháng 6 năm 1840), Thân vương xứ Canino và Musignano; kết hôn ngày 4 tháng 5 năm 1794 với Christine Boyer, và lần thứ hai ngày 26 tháng 10 năm 1803 với Alexandrine de Bleschamp, góa phụ của Hippolyte Jouberthon, thường được gọi là Madame Jouberthon.
- Maria Anna (Elisa) Bonaparte (3 tháng 1 năm 1777 – 7 tháng 8 năm 1820), được đặt tên theo các chị đã mất; Nữ Thân vương xứ Lucca và Piombino, Nữ Đại công tước xứ Toscana, và Nữ Bá tước xứ Compignano; kết hôn ngày 5 tháng 5 năm 1797 với Felice Pasquale Baciocchi.
- Louis Bonaparte (2 tháng 9 năm 1778 – 25 tháng 7 năm 1846), Quốc vương Hà Lan và Bá tước xứ Saint-Leu; kết hôn ngày 4 tháng 1 năm 1802 với Hortense de Beauharnais.
- Một con trai chết lưu (1779).
- Pauline Bonaparte (20 tháng 10 năm 1780 – 9 tháng 6 năm 1825), Nữ Thân vương cai trị và Nữ công tước xứ Guastalla; kết hôn lần thứ nhất ngày 5 tháng 5 năm 1797 với Victor-Emmanuel Leclerc, và lần thứ hai ngày 28 tháng 8 năm 1803 với Camillo Borghese, Thân vương thứ 6 xứ Sulmona.
- Caroline Bonaparte (25 tháng 3 năm 1782 – 18 tháng 5 năm 1839), Đại Công tước phu nhân xứ Berg và Cleves, vợ của Joachim Murat, về sau là Vương hậu Napoli, đồng thời mang tước Nữ Bá tước xứ Lipona.
- Jérôme Bonaparte (15 tháng 11 năm 1784 – 24 tháng 6 năm 1860), Quốc vương Westphalia, Thân vương xứ Montfort; kết hôn lần thứ nhất ngày 24 tháng 12 năm 1803 với Elizabeth Patterson, lần thứ hai ngày 22 tháng 8 năm 1807 với Katharina xứ Württemberg, và lần thứ ba với Justine Bartolini-Baldelli (hôn lễ tôn giáo năm 1840, hôn lễ dân sự ngày 19 tháng 2 năm 1853).
Phả hệ
[sửa | sửa mã nguồn]Chú thích
[sửa | sửa mã nguồn]- ↑ Seward 1986, tr. 6.
Tham khảo
[sửa | sửa mã nguồn]- "Bonaparte 2". Genealogy index. ngày 20 tháng 6 năm 2003.
- "Genealogy of Napoleon - The Bonaparte Family". Napoleon & Empire. ngày 29 tháng 9 năm 2021.
- Harvey, R. (2009). The War of Wars: The Epic Struggle Between Britain and France: 1789-1815. Little, Brown Book Group. ISBN 978-1-84901-260-7.
- Herold, J.C. (2002). The Age of Napoleon. A Mariner book. Mariner Books. ISBN 978-0-618-15461-6.
- McLynn, F. (1998). Napoleon: A Biography. Pimlico (Series). Pimlico. ISBN 978-0-7126-6247-5.
- Richardson, H.N.B. (1920). A Dictionary of Napoleon and His Times. Cassell.
- Seward, D. (1986). Napoleon's Family. Weidenfeld and Nicolson. ISBN 978-0-297-78809-6.
- Stroud, P.T. (2014). The Man Who Had Been King: The American Exile of Napoleon's Brother Joseph. University of Pennsylvania Press, Incorporated. ISBN 978-0-8122-9042-4.
Liên kết ngoài
[sửa | sửa mã nguồn]- Marek, Miroslav. "Bonaparte Genealogy". Genealogy.EU.
