Chùa Đót Sơn

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Bản đồ Đàng Ngoài thế kỷ XVII, trích từ bản đồ của Samuel Baron, Churchill, A collection of voyages and travel, Vol 6, London, 1974

Chùa Đót Sơn Xã Cấp Tiến Huyện Tiên Lãng, Hải Phòng có một ngôi Chùa tối cổ, Cổ tự Chuyết Sơn - Non Đông, nơi Hồn thiêng Sông núi, trung tâm Phật giáo Câu Lâu cổ, nơi tu hành của Thánh tổ Huyền Quang và nơi có cây Bồ Đề gốc Ấn Độ trên nghìn năm tuổi. Chùa nằm ở Thôn Quan Bồ, Xã Cấp Tiến ngày nay nhưng thuộc Tổng Kinh Lương[1], Tiên Lãng xưa. Ngôi chùa bị tàn phá trong cuộc kháng chiến chống Pháp trong những năm 1950 cùng với Đình Kinh Lương, Đền Khai Quốc, thờ những vị Thần giữ Biển Đông tại Đống Dõi, dẫn đến sự biến mất của một vùng đất sinh trạng, một mạch biển và Trung tâm Phật giáo Câu Lâu.

Chùa Chuyết Sơn – Trung tâm Phật giáo Câu Lâu[sửa | sửa mã nguồn]

Chùa Đót Sơn nằm trong vùng đất thuộc Tổng Kinh Lương xưa, một phần của một vùng văn hóa Câu Lâu cổ. Đây là một mạch văn hóa hướng biển thuộc mạch cửa Sông Thái Bình, một vùng đất theo mô tả của các sử gia là một thương cảng, cửa ngõ mở ra đối với đất nước, nơi hội được các nguồn lực phát triển và là điểm đầu đi lên Long Biên trong suốt lịch sử dân tộc.

Dư Địa chí Hải Phòng do Hội đồng Lịch sử Thành phố Hải Phòng biên soạn năm 1990, đoạn về vùng đất Tiên Lãng có viết "Nền văn hóa Tiên Lãng phát triển sớm. Đạo Phật du nhập vào mảnh đất này từ thế kỷ V, VI. Khoảng thời gian ấy, Tiên Lãng đã xuất hiện một trung tâm Phật giáo ở Chùa Đót (Cấp Tiến) với kiến trúc quy mô, bảo tháp và tượng Phật đồ sộ. Chùa Đót đã hoạt động liên tục suốt các triều đại Lý, Trần, Lê, Mạc... kích thích sự ra đời của hàng chục ngôi chùa khác ở trong vùng, trong đó có hẳn một kho chứa kinh đặt ở Chùa Thiên Tộ (Phác Xuyên - Bạch Đằng)". Thời điểm ra đời của của Chuyết Sơn là sự lý giải về đường đi của Phật giáo, thời điểm Phật giáo chính thức du nhập vào Việt Nam và Trung Quốc và ý nghĩa của ngôi chùa như một trung tâm Phật giáo của Giao Chỉ.[2]

Trong Cuốn Văn Bia Tiên Lãng do PGS.TS Đỗ Thị Hảo, Chủ tịch Hội Văn nghệ Dân gian Hà Nội cùng các cộng sự đã tiến hành sưu tầm, biên dịch, chú giải vào năm 2008, tấm bia cổ nhất của Tiên Lãng chính là tấm bia Hoàng Đồ Củng cố Đót Sơn Tự Di Đà Phật Bi được dựng vào đời Vua Lê Thánh Tông vào năm 1491. Trong cuốn Thư mục Thác bản Văn khắc Hán Nôm Việt Nam được lưu tại Viện Viễn Đông Bác cổ và Viện Cao học Thực hành, Chùa Đót Sơn còn có những tấm bia khác như Tân tạo Bồ Đề La Hán Bi ký (số 9575-9576), Tạo thạch Phật Bi (số 9569-9570), Tân Tạo Thiên đài trụ (số 9562-9563-9564-9565), Tín Thí (9568), Tân tạo xế giai hậu phòng hành lang bi (số 9473-9574). Đình Kinh Lương có tấm bia Tân Tạo hậu Thần bi, số 9566-9567 - có tóm tắt bia trong Văn khác Hán Nôm Việt Nam, Hà Nội, KHXH, 1993, tr. 166) và 13 đạo sắc phong trong đó có 2 đạo sắc phong trong đời vua Tự Đức, một đạo trong đời vua Đồng Khánh, 3 đạo trong đời vua Thành Thái, 1 đạo trong đời vua Duy Tân, 6 đạo trong đời vua Khải Định. Đạo sắc cuối cùng được ban cho các vị thần đang được thờ phụng tại vùng đất Kinh Lương được vua Khải Định ban vào ngày 25 tháng 7 năm 1924 trong dịp đại lễ mừng Vua Khải Định tròn 40 tuổi.[3] Tấm bia dựng tại chùa Đót Sơn Hoàng Đồ Củng cố Đót Sơn Tự Di Đà Phật Bi, dựng vào đời vua Lê Thánh Tông niên hiệu Hồng Đức thứ 22 (1491), cho biết "chùa có từ đời nhà Lương (505-543), trải qua các đời Lý Trần, con vị Quản lão ở bản xã cùng vị sư trụ trì đứng ra sửa chùa quy mô to lớn".[4] Bia Tân Tạo Bồ Đề La Hán và Tạo Thạch Phật Bi ký cũng cho biết Chùa Đót Sơn là một danh lam thắng cảnh của Việt Nam và "là chốn tươi đẹp ở Hải Dương, là nơi thắng địa ở huyện Tân Minh, là chốn danh lam đệ nhất vậy[5]”. Chùa Đót Sơn cũng là nơi “Đế đức Cửu trùng chi ngự, Thánh Chúa phủ trị chi Hưng, Triều đình yên xã tắc chi đại, Thiên hạ hưởng Thái bình chi dân[6] hay nơi giữ mạch nước vững bền[7].

Những văn bia Chùa Đót Sơn, đối chiếu với Thần tích làng Hán Nam (xã Kiến Thiết nay), huyện Tiên Lãng có nhắc đến việc Đào Tiên Nương, Đệ tứ Hoàng hậu của vua Hùng Nghị Vương (Hùng Vương thứ 17), người giúp giúp Hùng Nghị Vương đánh giặc Hồ Tôn, ra hải đảo tu Phật vào cuối đời, Văn bia “Thiên Tộ bi ký” dựng năm Quý Mão, niên hiệu Cảnh Trị sơ niên (1663), thư viện của Chùa Đót Sơn  trong đó viết “Chùa Phác Xuyên tên chữ là Thiên Tộ, vốn là một chốn danh lam cổ tích nổi tiếng của huyện Câu Lâu – Giao Châu” và Sự tích Thần phả Đức Thánh Nam Hải Đại Vương[8] thờ Ngài Phạm Hải Công - Thần Thiên Quan Bình Lãng, tại Đình An Cố, Xã Thụy Hải, Thái Thụy, Thái Bình, minh chứng, vùng đất cửa sông Thái Bình với Huyện Tiên Lãng trong đó có Kinh Lương, Phác Xuyên, Tử Đôi, Bến Tháp, Bạch Đằng, Hán Nam… một bên, Vĩnh Bảo và Thái Thụy một bên đã xuất hiện từ thời Hùng Nghị Vương thứ 17 và Hùng Duệ Vương thứ 18, thời kỳ của Tản viên Sơn Thánh và của Chử Đồng Tử - Tiên Dung kinh doanh và thịnh vượng tại vùng đất thương cảng cửa sông và học Phật tại thành Nê Lê Đồ Sơn (cách thương cảng 7 dặm). Khớp nối với những gì được Thần Sử Đặng Xuân Bảng mô tả về vùng đất An Định (trong đó có làng An Biên) và Câu Lâu trong thời kỳ Bắc thuộc trong Sử học Bị khảo, vùng đất này xưa là Huyện Câu Lâu với Câu có nghĩa người dân thuyền chài, dân đi biển và Lâu là làng/thành phố. Xã Cấp Tiến, huyện Tiên Lãng là một phần của vùng đất cổ Câu Lâu (năm 40- đến thế kỷ IX) và là Trang Cảnh Thanh vào thời kỳ nhà Đinh – Lý (IX-XI), Tổng Kinh Thanh (XII-XIX) và Tổng Kinh Lương trước Cách mạng Tháng 8 năm 1945. Như vậy, có thể khẳng định Chùa Đót được xây dựng trước cuộc khởi nghĩa của Lý Nam Đế với sự ra đời của nước Vạn Xuân và được coi là ngôi Chùa tối cổ của Việt Nam.

Từ hòn đảo ngoài khơi Đồ Sơn[9], nơi có thành Nê Lê, vượt qua biển, một trung tâm Phật giáo Câu Lâu đã được hình thành tại vùng đất thương cảng bởi những người dân vùng đất này (những người con của Phật) và nhà sư Ấn Độ. Trung tâm Phật giáo Câu Lâu ở Thương cảng và Trung tâm Phật giáo Luy Lâu ở Thủ phủ đánh dấu sự du nhập chính thức của Phật giáo vào Giao Chỉ - Giao Châu để từ đó đi lên Trung Quốc. Chính vì lẽ đó thuật ngữ "trên Luy Lâu, dưới Câu Lâu" mới được nhắc đến trong lịch sử Phật giáo. Lập luận này hoàn toàn phù hợp với nhận định của tác giả Nguyễn Lang trong Việt Nam Phật giáo sử luận trong đó viết “Các vị tăng sĩ này tới viếng Việt Nam bằng đường biển, theo các thuyền buôn người Ấn. Nhưng trước khi các vị tăng sĩ Ấn Ðộ tới Việt Nam, các thương gia Ấn Ðộ cũng đã tới Việt Nam rồi và cũng đã mang theo sinh hoạt Phật giáo tới xứ ta. Hồi bấy giờ (đầu kỷ nguyên) Ấn Ðộ đã có liên hệ thương mại trực tiếp với Trung Ðông và gián tiếp với các nước vùng Ðịa Trung Hải, Ðế quốc La Mã tiêu thụ rất nhiều vàng, lụa, hương liệu, trầm, quế, tiêu, ngà voi, châu báu... Ðể có đủ hàng cung cấp cho thị trường ấy, các thương gia Ấn Ðộ đã dong thuyền đi mãi về Viễn Ðông. Những thương thuyền này theo gió mùa Tây nam đi về Ðông Nam Á, tời bờ biển Mã Lai, Phù Nam và Giao Chỉ. Thương gia Ấn Ðộ phải ở lại đây cho đến năm tới, chờ cho gió mà Ðông bắc để trở về Ấn Ðộ. Trong thời gian này, họ lại sống với dân bản xứ và đã ảnh hưởng tới dân bản xứ bằng lối sống văn minh của họ. Vì sự có mặt của những thương gia Ấn Ðộ mà dân ta hồi đó đã biết đến ít nhiều về kỹ thuật canh tác, y thuật và tôn giáo Ấn Ðộ. Ta có thể nói rằng chính những thương gia Ấn Ðộ đã trước tiên đem Phật giáo vào nước ta”[10].

Thời kỳ ra đời của Chùa Chuyết Sơn đánh dấu sự du nhập chính thức của Phật giáo vào Việt Nam. Sở dĩ có nhận định như vậy là bởi mặc dù Phật cổ đã du nhập vào nước ta từ thời kỳ Hùng vương khoảng 200-300 năm trước công nguyên như theo Truyền thuyết về Chử Đồng Tử, Đạo Phật cũng không thể có chỗ đứng ngay do những xung đột chính trị giữa tín ngưỡng đạo Phật và tín ngưỡng cổ Văn Lang, giữa Phật giáo cổ và giới cầm quyền của các vua Hùng[11]. Đến giai đoạn nước ta chìm trong sự đô hộ của Phong kiến Phương Bắc, Giao Chỉ/Giao Châu bị ảnh hưởng rất mạnh bởi nền văn minh Trung Quốc với tư tưởng Nho Giáo và Lão Giáo. Giai thoại về Sỹ Nhiếp[12] (137-226) trong Đại việt Sử ký Toàn cũng nêu rất nhiều về sự di cư của người Trung Quốc xuống và sự hiện diện của người Hồ (các nhà sư Ấn Độ) tại nước ta thời kỳ bấy giờ. Thành Nê Lê tại Đồ Sơn là nơi du nhập đầu tiên của Phật giáo. Vào thế kỷ thứ XI, Giao Chỉ vẫn thuộc sự đô hộ của nhà Lương, Trung Quốc (502-557). Sau khi Lương Vũ Đế Tiêu Diễn giết chết người anh Tiêu Bảo Dung để tiếm quyền vào năm 502, ông ta đã vấp phải rất nhiều thách thức liên quan đến sự hợp pháp trong ngôi vị và sự đồng thuận của các quan lại trong triều, những người đang chịu ảnh hưởng rất lớn của tư tưởng nho giáo và Lão giáo. Trong "Sự từ bi của Đức Phật và việc sử dụng Phật giáo cho mục đích chính trị của Hoàng Đế Vũ đời nhà Lương (502-549)", Tom De Rauw đã viết "Phật giáo đã được Lương Vũ Đế sử dụng rất thành công trong việc quy phục được sự ủng hộ của giới quan lại và các hầu tước phong kiến… và cải tổ được hệ thống chính trị, văn hóa và tôn giáo, điều mà nhiều vị hoàng đế trước đó không làm được"[13]. Chính vì lẽ đó, khác với giai đoạn trước khi đạo Phật được coi là ngoại đạo và Nho Giáo và Lão Giáo là hai tư tưởng thống soái, Đạo Phật đã có chỗ đứng trong xã hội Giao Chỉ cũng như Trung Quốc và được khuyến khích phát triển. Nó cũng lý giải tại sao khu vực Dâu - Luy Lâu mới trở thành Trung tâm Phật giáo và trở thành điểm tiếp nối đi sang Bành Thành, Trung Quốc của các nhà sư Ấn Độ.

Khi có sự ủng hộ mạnh mẽ của chính quyền nhà Lương, Phật giáo bấy giờ mới công khai hoạt động với việc hình thành chùa Chuyết Sơn tại vùng Thương Cảng cửa sông, cách Thành Nê Lê, Đồ Sơn rất gần. Hoạt động truyền bá đạo Phật và hoạt động dịch thuật nhiều văn kinh từ tiếng Phạn sang tiếng bản địa. Giai đoạn năm 503-543 mới chính thức là thời điểm chính thức với quy mô lớn hơn với việc hình thành hai trung tâm Phật giáo, Chùa Chuyết Sơn, trung tâm Phật giáo Câu Lâu ở thương cảng và Luy Lâu ở trung tâm của Chính quyền đô hộ.

Chuyết Sơn - Non Đông - Đót Sơn: kinh đô của Thiền phái Pháp môn tịnh độ Thiền Tông[sửa | sửa mã nguồn]

Vào thế kỷ thứ 10 dưới thời của Đinh Tiên Hoàng Đế, thời kỳ của quốc gia độc lập Chùa nằm trên địa bàn Cảnh Thanh sau là Tổng Kinh Thanh, huyện Bình Hà, Phủ Nam Sách, Hải Dương. Chùa gắn liền với Đức tổ Huyền Quang, Thánh tổ Non Đông và là kinh đô của Pháp Môn Tịnh Độ Thiền tông.

Phật giáo trở thành quốc đạo và được triều đình công nhận. Hai anh em dòng họ nhà Đinh gồm Đinh Bộ Lan, em trai của Vua Đinh Tiên Hoàng và Đinh Bộ Đông (947-999) em họ của Vua đã tu tại Chùa Non Đông. Đinh Bộ Đông lấy tên pháp Huyền Quang Thích Quảng Đông và là vị sư trụ trì chùa Non Đông trong khi Đinh Bộ Lan lấy tên pháp là Thích Quảng Bình. Hai vị được coi là những vị tổ của trường phái Pháp môn Tịnh độ Thiền tông. Ngài Huyền Quang viên tịch vào ngày 24 tháng 1 năm Kỷ Hợi 999, thọ 51 tuổi.

Thời điểm bấy giờ, Chùa Non Đông là ngôi chùa lớn nhất trên Vùng Đồng Bằng Bắc bộ vào thời điểm đó và là Trung tâm của Phật giáo Pháp môn tịnh độ Thiền Tông. Vào mùa Kết Hạ, Chùa Non Đông đón 300 đến 400 vị Chư Tăng tại nhiều vùng trong cả nước. Cơm được nấu bằng niêu đất và thực phẩm đều tự cấy và trồng từ vườn của nhà Chùa. Đồng tu với Pháp sư Huyền Quang còn có Đinh Bộ Lan, em ruột của vua Đinh Bộ Lĩnh với tên Pháp là Thích Quảng Bình. Công đức của Ngài đệ tam Huyền Quang hiện còn lưu lại qua bài thơ được dân gian tại vùng của Chùa Non Đông – Chùa Đót Sơn truyền tụng:

Nam mô Đức Tổ Huyền Quang

Ngài đi soi xét mười Phương xa gần

Xem ai có đức có nhân

Xem ai chuyên cần lễ bái thành tâm

Xem ai tụng niệm Phật thầm

Xem ai già lão tín tâm lên chùa

Bầu trời cảnh Phật thanh đô

Có thuyền Bát Nhã có Hồ Trang xinh

Xem ai cứu được chúng sinh kẻ bần

Trẻ thì lắm lộc nhiều xuân

Già đi tụng niệm để thân nhờ trời

Đã đi làm phúc đừng cười

Của đi làm phúc muôn đời thọ khang

Đã đi làm vãi triền già

Nào ai sỉ báng thì ta được nhiều

Anh em phải có lòng yêu

Thì ta phải học cho nhiều văn kinh 

Vào thời kỳ nhà Trần (1226-1400), Chùa Non Đông và Thiên Tộ (thư viện) là ngôi chùa lớn của Tổ đình (sơn môn) Dưỡng Mông (tên nôm là chùa Muống, tên chữ là Quang Khánh) thuộc Thiền phái Trúc Lâm. Tục truyền, Tuệ Nhẫn quốc sư Vương Huệ (dân gian gọi là Tổ Non Đông hoặc Tổ Muống hay Tổ Cáy) từng trụ trì và bỏ tiền của xây dựng lại chùa Phác Xuyên với quy mô lớn, theo kiểu “nội công ngoại quốc”, các công trình bố cục theo trục dọc, hướng tây (tương truyền chùa Thiên Tộ cùng cất một giờ trong cùng một ngày với 72 ngôi chùa thuộc sơn môn Dưỡng Mông (Quang Khánh) ở xứ Đông)…Theo văn bia “Quang Khánh tự bi minh tự” do tiến sĩ khoa Đinh Mùi (1487) Phạm Cảnh Chiêu soạn, khắc dựng năm Hồng Thuận thứ 7 (1515) thì Sư họ Vương, hiệu là Quán Viên, quê xã Dưỡng Mông (làng Muống), thuở nhỏ, bố mất, mẹ ở vậy nuôi con. Từ 10 tuổi, sư khắc khổ chuyên cần học, 19 tuổi đọc rộng các sách, rồi chán cảnh trần tục, yết kiến Kiên Tuệ đại sư chùa Báo Ân đi tu. Sau thụ cụ túc giới hai sư Nghĩa Trụ và Chân Giám, giới hạnh, tài biện hơn người. Sư được vua Trần và triều thần rất kính trọng. Vua Anh Tông ban cho pháp hiệu Tuệ Nhẫn quốc sư. Như vậy, Tuệ Nhẫn quốc sư là một nhà sư nổi tiếng thời Trần, cùng thế hệ với Pháp Loa và Huyền Quang thuộc Thiền phái Trúc Lâm. Tổ Non Đông – Từ Nhẫn quốc sư Vương Huệ viên tịch ngày 25 tháng 1 năm Ất Sửu – 1325, nên hàng năm cứ đến ngày này, bà con tín đồ Phật tử Chùa Non Đông – Thiên Tộ lại thành tâm ra chùa giỗ Tổ, dân gian thường gọi là hội Non Đông. Ca dao vùng này có câu: “Nhắc ai gieo đậu, trồng bông – Chờ sau giỗ Tổ Non Đông hãy trồng”.

 Trong thời nhà Minh đô hộ, vùng đất Tiên Lãng nằm trong địa bàn của cuộc khởi nghĩa do nhà sư Phạm Ngọc ở chùa Đại Minh – Đồ Sơn lãnh đạo, cuộc nổi dậy của nhân dân Tiên Lãng do Phạm Thiện chỉ huy và cuộc khởi nghĩa chống Minh do Lê Ngã (Tràng Kênh- Thuỷ Nguyên) lãnh đạo, nên vùng đất này đã bị giặc khủng bố dã man. Thời bấy giờ, chùa Non Đông (tên gọi của Chùa Đót Sơn bây giờ), Chùa Thiên Tộ cũng như nhiều đình, chùa, đền, miếu khác ở Tiên Lãng bị giặc tàn phá, cướp bóc, làm cho mất dạng hoàn toàn. Đến năm 1491, dưới triều nhà Lê, Chùa Non Đông được tu sửa lại. Vua Lê Thánh Tông trong lần vãn cảnh chùa, đã tức cảnh bài thơ Đót Sơn tên gọi, Sãi vãi dựng xây Vẹn tròn tượng Phật, Nền phúc căng đầy Lưu truyền mãi mãi Cùng hưởng sum vầy Góp phần công đức Khắc đá minh này. Bài thơ này được in trong Văn bia Hoàng Đồ Củng cố Đót Sơn Tự Di Đà Phật Bi của Chùa và Chùa Non Đông đã được đổi tên thành Chùa Đót Sơn từ thời điểm bấy giờ.[14]

Di sản văn hóa lịch sử này đã trở thành kỳ quan và cảnh đẹp hàng đầu của Việt Nam với quy mô tượng Phật đồ sộ. Chùa Đót Sơn còn có nơi khám chữa bệnh cho người dân vùng đất thương cảng. “Danh viết Đót Sơn/Việt Nam cảnh đẹp/Hưng công xây dựng/Tượng Phật La Hán/Quy mô tráng lệ/Chế tác vẹn toàn; “Ôi! Thứ nhất là chùa Đót Sơn, thứ nhì cũng là chùa Đót Sơn, đề tên, làm chùa, trông Phật, đại để đặt tên núi là Đót Sơn là lấy theo độ cao của núi vậy. Nương vào pháp, mẫu ở tăng, hình thế chùa ta, phía trên là hình núi Đôi, phía dưới có bậc nhân tài. Bản tự là chùa Đốt Sơn trong núi”[15], “Nay có chùa Đốt Sơn, là chốn tươi đẹp ở Hải Dương, là nơi thắng địa ở huyện Tân Minh, là chốn danh lam đệ nhất vậy"[5] hayĐẹp thanh Tân Minh/Đốt Sơn nổi danh/Tượng đá nguy nga/Tướng vàng tranh vanh…Mong thọ mạch nước/Đặt vững đất Việt/Muốn truyền mãi mãi/Bèn khắc vào bia”[16] là những lời ngợi ca về Chùa Đót Sơn trong giai đoạn này.

Là trung tâm luyện kinh của cả nước nên Chùa Đót Sơn là nơi chứa rất nhiều loại kinh Phật. Nhiều vị vua của Đại Việt về Chùa Đót và Chùa Thiên Tộ (Thư viện) để đọc kinh Phật nên ở ngay ngã ba Huyện Tiên Lãng còn có một địa danh gọi là Bến Vua, nơi đón Thuyền Rồng của các vị vua khi kinh lý từ Thăng Long xuống vùng thương cảng qua Sông Thái Bình. Con đường đi vào Chùa và Đình Đền được gọi là con đường Rồng. Không ai biết về số phận của các cuốn kinh Phật này nhưng có một điều chắc chắn nhiều cuốn kinh đã bị hòa vào trong lòng đất sau khi Chùa bị phá giai đoạn năm 1949-1953. 

Giá trị lịch sử Cách mạng của Chùa Đót Sơn[sửa | sửa mã nguồn]

Trước cách mạng tháng tám, Vùng đất Tổng Kinh Lương vẫn nổi tiếng với Đình Kinh Lương, Đền Đống Duy và Chùa Đót Sơn với ba nhãn thần là ba giếng thần nằm trước cửa đình Kinh Lương của ngài Mạnh Tướng Đăng Kinh Đại vương, trong làng Kinh Lương của ngài Hỏa Thần Đống Duy Đại vương và trước cửa chùa của Ngài Thần Kỳ Cửa Chùa Đại vương. Đình Kinh Lương đã được nhiều Triều đại phong kiến ban sắc phong mỗi khi một triều đại lên trị vì hay một vị vua lên ngôi.[17] Chùa Đót Sơn là một trong ba ngôi chùa lớn nhất, thuộc Giáo hội Phật giáo ty Duyên Hải Đồng bằng Bắc Bộ.

Theo các cụ trong làng kể lại và căn cứ vào các văn bia, trước khi bị phá, Chùa Đót Sơn có quy lớn, tượng Phật đồ sộ. Khuôn viên của Chùa rộng 8 mẫu trong đó có hai mẫu vườn, một mẫu ao và năm mẫu ruộng. Ngôi Chùa chính nằm ở Hướng Đông với 100 gian và nhiều hoành phi. Xung quanh chùa chính có hành lang rộng 3 mét. Đằng sau, phía tây có 100 pho tượng La Hán bằng đá. Hai dãy nhà ngang, một quay hướng Bắc và một quay hướng theo kiều răng bừa, phía sau nhà chính mỗi dãy 50 gian. Xung quanh hay dãy nhà ngang đều có hành lang rộng 3 mét. Chùa có một quả chuông nặng 1.5 tấn.

Cổng Tam Quan ở Hướng Đông, ngoài cổng bên phải có cây bàng, bên trái có bụi tre. Phía Tây có hai cột đá cao 7 mét. Phía Tây nam có bệ đá Tam cấp trên thờ tượng Phật bằng đá. Cổng phía Tây có Cây Bồ đề gốc Ấn Độ do các nhà sư Ấn Độ mang sang trồng khi chùa mới được xây dựng. Lối vào Hậu cung có bốn bậc thềm và hai bên Hậu cung có năm ông Hộ pháp tượng bằng đá với một tay chỉ Thiên và một tay chỉ Địa[18].

Trong cuộc kháng chiến chống Pháp giai đoạn 1945-1954, huyện Tiên Lãng đã trở thành nơi đầu sóng ngọn gió và đã kiên cường đánh bại nhiều trận càn của lính thực dân Pháp và tay sai trong đỉnh cao là trận phá càn Cờ Lốt năm 1953. Bởi vậy có người đã ví Tiên Lãng như Đất thép Củ Chi ở Sài Gòn thời chống Mỹ. Chùa Đót Sơn cũng như Đình Kinh Lương và Đền Đống Duy được coi là căn cứ cách mạng quan trọng. Hoạt động ở khu vực Kinh Lương Quan Bồ có ông Lê Quốc Thân, bí thư Tỉnh ủy Hải Kiến (1946-1952) sau này là Ủy viên Trung ương, Trưởng ban Nội chính trung ương, Thứ trưởng Bộ Công An, Ông Trần Kiên, Bí thư Tỉnh ủy Hải Kiến (1952-1955) với bí danh cụ “Trấn” hay “Phạm Minh”[19] tên húy của Thành Hoàng Cảnh Thanh, Thành Hoàng vùng đất này, Trung tướng Đặng Kinh, khi đó là tỉnh đội trưởng Tỉnh đội Kiến An sau này trở thành Phó tổng tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam, Ông Hoàng Xuân Lâm, Chính trị viên Phó tỉnh đội, sau này là Giám đốc Công an Thành phố Hải Phòng…Theo một số cán bộ lão thành cách mạng, nguyên Tổng Bí thư Đỗ Mười đã từng ở tại Chùa để chỉ đạo kháng chiến khi ông là Chính ủy Quân khu Tả Ngạn. Năm 1946, hưởng ứng lời kêu gọi Toàn quốc Kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Hòa thượng Thích Thanh Lạc cùng với các cụ trong làng đã viết lời kêu gọi “Kháng chiến kiến Quốc nhất định thành công” trên Phên Thuốc Lào và treo ở Chùa. Địch phát hiện và tiến hành nhiều vụ khủng bố. Năm 1946-1947, một đại đội Công an do ông Hoàng Bát Sơn chỉ huy đã đóng quân tại Chùa. Đất đai (8 mẫu ruộng), trâu bò, thực phẩm được dùng cho kháng chiến và các vị sư của Chùa cũng tham gia vào lực lượng du kích. Khi các nhà sư ra trận, Chùa được giao lại cho Ủy ban kháng chiến xã Cấp Tiến quản lý. Quả chuông 1.5 tấn được đem đi đúc đạn, tượng bằng đất bị phá, tượng bằng gỗ bị tiêu hủy và tượng bằng đồng đem đi sơ tán. 

Kinh Lương đã trở thành nơi chiến địa ác liệt nhất khi những tàu chiến của Pháp có thể tiếp cận rất gần từ khu vực mà bây giờ là Cống Nẻ. Và trong thời gian này, trước sự ác liệt của cuộc chiến tranh, Chùa Đót Sơn, Đình Kinh Lương và Đền Đống Duy đã bị phá hủy. Hòa thượng Thích Thanh Dũng cùng các vị sư khác hy sinh trong trận càn của Pháp ngày 30 tháng 4 năm 1951 nhưng đến nay vẫn chưa được công nhận là liệt sĩ[20].

Hòa bình lập lại, Sư sãi của Chùa đã hy sinh hết, Chùa không còn ai quản lý. Tam quan Chùa Đót Sơn đã trở thành Nghĩa trang Liệt sĩ xã Cấp Tiến, huyện Tiên Lãng, đất đai của Chùa bị dân chiếm hoặc giao có dân canh tác. Toàn bộ các tượng Phật bằng đá đều bị thất lạc. Các cột đá ở tam quan và văn bia, vốn bị vứt ở dưới gốc đề đã được sử dụng để xây Cống Nẻ. Ngôi chùa chỉ còn lại là một am rất nhỏ, vốn là chiếc bếp xưa của Chùa và một cây Bồ đề trên nghìn năm tuổi, được các nhà sư Ấn Độ mang sang khi truyền đạo vào thế kỷ thứ 6 và được coi là cây Bồ Đề gốc Phật giáo của Việt Nam. Năm Ất Mùi 1955, sau khi hòa bình lập lại, mặc dù đã bị tàn phá, hội Chùa Đót Sơn vẫn được Giáo hội Phật giáo Kiến An và các tỉnh Đồng bằng Bắc Bộ tổ chức vào ngày Giỗ tổ Huyền Quang (ngày 25 tháng giêng) trong 7 ngày. Sau sự kiện lễ hội toàn bộ Tiên Lãng trải qua lũ lụt rất lớn. 

Là cây Bồ Đề gốc Ấn Độ, nên cọng của lá dài hơn so với cọng của lá cây Bồ Đề thường được thấy ở Việt. Lá cây to hơn và dày hơn. Quả bồ đề rất giống về màu sắc, hình dáng nhưng to gấp đôi quả si. Khi chín, vỏ quả có màu đỏ sẫm, ăn rất ngọt. Phần gốc cây được bao bọc bởi tầng tầng, lớp lớp rễ. Rễ cây rủ xuống, rồi quấn quýt gốc cây diễn ra khá kỳ lạ. Lúc đầu, tơ rễ có màu đỏ au, từ xa nhìn lại, gốc cây như nàng công chúa mặc tấm áo lụa đỏ mới. Sau đó, rễ dần dần ngả màu xám, ngày một bám chặt vào thân. Chính từ gốc cây Bồ Đề này, nhiều nhà sư của Việt Nam đã đạt được sự đắc đạo trong đường đời tu hành của mình trong đó có Hòa thượng Thích Quảng Đông (Huyền Quang), Thích Quảng Bình, Thích Thanh Tứ, Thích Thanh Lạc vv. Như câu thơ hiện vẫn được bà con truyền miệng "Trời đất xoay vần vẫn còn đây/Tam Quan Chùa Đót tiếc dựng xây/Bóng mát cây đề là muôn thuở/Vinh hoa phú quý hưởng phúc đầy".

Hình tượng Chùa Đót Sơn, nơi ngự của Đế Đức Cửu Trùng và Thánh Chúa Phủ trị cùng năm vị Hộ Pháp của Chùa Đót Sơn như trong Văn Bia Tân Tạo giai thế Hậu phòng Hành lang Bi và nơi “Mong thọ mạch nước, Đặt vững đất Việt” như trong Tạo Thạch Phật Bi minh chứng rằng Chùa Đót Sơn nằm trên mạch nhân tài “anh hùng kế thế” của đất nước ứng với việc Việt Nam “mất trạng” khi Chùa bị phá. Tuy nhiên, trong dân gian vẫn truyền nhau câu thơ tạo nên hy vọng về việc khôi phục lại mạch nhân tài này khi Chùa được phục dựng: Chốn Rồng lại có đất Tiên/Mai sau con Lạc cháu Hồng vinh hoa/Trạng đi rồi trạng lại về/Lấp sông Bồ đề gieo mạ trồng kê

Kết Luận

Những gì về Chùa Đót Sơn, Đình Kinh Lương, Miếu tại Đống Dõi thờ những vị thần giữ Biển Đông của đất nước ứng với câu sấm truyền của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm từ 500 năm trước về vùng đất này "Kinh Lương Chùa Đót/Còn sót một ngôi/Huyệt tại Thiên Lôi/Anh hùng kế thế. Ngôi như trong câu sấm của Trạng Trình chính là ngôi Bắc Thần[21] (Chòm sao Bắc Đẩu) tương ứng với Chùa Đót Sơn, giống như ngôi Văn Khúc ứng với chính Đền thờ cụ tại Vĩnh Bảo. Chùa Đót Sơn như theo Đức Khổng Tử là "Bắc Thần cư kỳ sở, Nhi chúng tinh củng chi" hay "Chốn Bắc Thần chi ngự, Chốn muôn tinh chầu về". Bên cạnh những giá trị về kinh tế, lịch sử và văn hóa, vùng Kinh Lương Chùa Đót có thể được đánh giá là căn cứ địa cách mạng giữ toàn vùng Tiên Lãng của Liên Khu 3 (Quân khu tả ngạn/Quân khu 3) trong giai đoạn 1946-1952.

Giáo sư sử học Lê Văn Lan trong cuộc phỏng vấn Phóng viên của Báo Bảo vệ Pháp luật về vùng đất Kinh Lương, Xã Cấp Tiến khẳng định “Đây là vùng Địa Văn hóa với những công trình mang giá trị văn hóa đặc sắc bởi đây vừa là vùng vừa tiếp nhận những tinh hoa văn hóa vào giao thương kinh tế với thế giới, vừa là vùng phát tán, truyền đi các giá trị văn hóa đến các vùng miền khác trong cả nước” và "nếu đặt Kinh Lương - Chùa Đót Sơn – Đền Đống Duy vào một môi trường lịch sử xã hội thì thấy đấy là nền của một vùng văn hóa hướng ra biển, tiếp nhận ảnh hưởng của biển. Có nền đó thì mới có các cuộc vân du của các thích du như các nhà sư Ấn Độ, Chử Đồng Tử, Mạc Đăng Dung. Nhờ đó mà chúng ta mới được hưởng những di sản văn hóa vô giá trị là đình, đền, chùa và các đường viền bao quanh nó. Văn hóa – xã hội trên nền ấy làm cầu nối từ bấy giờ đến bây giờ"[22] Bình luận về vùng đất này, GS.Hoàng Chương, Tổng Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Bảo tồn và Phát huy Văn hóa dân tộc Việt Nam nhận định: Căn cứ vào những thông tin ban đầu thì Chùa Đót Sơn, Đình Kinh Lương và Đền Đống Duy xứng đáng là di sản văn hóa của nhân dân, của dân tộc. Ai đã tàn phá đình đền là có tội với nhân dân với đất nước. Đã là di sản thì phải bảo vệ, sắp tới chúng tôi sẵn sàng cùng với chính quyền, nhân dân địa phương và các nhà khoa học trong và ngoài nước tổ chức hội thảo khoa học đánh giá lại chính xác giá trị lịch sử, văn hóa để có những bước đi phù hợp tiếp theo[23].

Câu Lâu - Đò Mè mang hồn của Thành phố Cảng, Kinh Lương Chùa Đót mang hồn của nền văn hóa Câu Lâu, một nền văn hóa hướng biển và giữ biển của dân tộc Việt. Việc khơi lại vùng đất này là cần thiết khi đây là lời giải của về vai trò của Vịnh Bắc Bộ và Đại Việt trong hệ thống hải thương quốc tế, về chiến lược giữ biển của cha ông, về một thành phố thương cảng cổ, về một nền văn hóa hướng biển mà từ đó làm nên một nền văn hóa độc lập, đậm đà bản sắc dân tộc và về sự du nhập của Phật giáo vào Việt Nam. Nhiều di vật có giá trị cao về mặt khảo cổ tại Đống Dõi, Mản Trúc, Đồng Khoán và Chùa Đót Sơn cần phải được khai quật, để minh chứng đầy đủ về những giá trị của vùng đất này..

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

[24][25][26][27]

  1. ^ “Kinh Lương – Lời giải cho nhiều giá trị văn hoá lịch sử”. 
  2. ^ Địa Chí Hải Phòng, Hội đồng Lịch sử Thành phố Hải Phòng, Trang 223
  3. ^ “Chuyện khắc trên văn bia Đình làng Kinh Lương”. 
  4. ^ PGS TS Đỗ Thị Hảo, Văn Bia Tiên Lãng, trang 24
  5. ^ a ă Tạo Thạch Phật Bi
  6. ^ Tân Tạo Bồ đề La Hán ký
  7. ^ Văn bia Tạo Thạch Phật Bi, bia ký hiệu số 9569-9570, hoàn thành năm Quý Mùi 1584, được lưu giữ tại Viện Viễn Đông Bác Cổ và được biên dịch bởi Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh có câu thơ ““Đẹp thay Tân Minh/Đót Sơn nổi danh/Tượng đá nguy nga/Tướng vàng tranh vanh/Mong thọ mạch nước/Đặt vững đất Việt/Muốn truyền mãi mãi/Bèn khắc vào bia
  8. ^ “SỰ TÍCH THẦN PHẢ, ĐỨC THÁNH NAM HẢI ĐẠI VƯƠNG THƯỢNG ĐẲNG PHÚC THẦN, ĐÌNH AN CỐ, XÃ THỤY AN, HUYỆN THÁI THỤY, TỈNH THÁI BÌNH”. 
  9. ^ Ngô Vi Liễn, Địa dư các tỉnh Bắc kỳ, Hội đồng Duyệt sách Duyệt y cho dùng ở các Trường Pháp Việt, 1930, Trang  57-58 và trang 131-132. Địa dư các tỉnh Bắc Kỳ, Ngô Vi Liễn viết “Núi voi và Núi Đồ Sơn xưa là những cù lao ở giữa bể, sau đất phù sa bồi lan mãi ra, rồi vây bọc cả những cù lao ấy”. Phần về Thành phố Hải Phòng, tác giả mô tả “Ngày 15 tháng 3 năm 1874, khi Triều đình ta nhượng cho nước Pháp đất Hải Phòng thì đất ấy hãy còn là một cái chợ mà thôi. Khu đất ấy diện tích được 42 mẫu ta (15 hectare), chính là chỗ làm tòa đốc lý và nhà thương bây giờ. Về thời ấy, Thành phố Hải Phòng giống như là một cái đầm to, chỗ nào cũng có đất nổi lên, có những con đê nhỏ giao thông với nhau. Sau nhà nước lấp dần hồ ao đi, rồi lập trại lính. Năm 1881 lập tòa lãnh sự sau dựng hai cái đồn ở bờ sông Tam Bạc. Dân cư bấy giờ chỉ có một người Pháp lại khách và ít người Việt Nam ở các làng xung quanh đến ngụ đấy thôi. Năm 1875 thì mới có một ít người Âu Châu đến làm nhà tạm ở bờ sông Tam Bạc.  Năm 1882 thì những người buôn bán mới lập cửa hàng. Nhưng từ năm 1885 trở đi, thì những nhà to bắt đầu dựng lên ở đất Hải Phòng. 
  10. ^ “Việt Nam Phật giáo sử luận, Tập 1, Nguyễn Lang, Nhà xuất bản Văn Học, Hà Nội, 1979”. 
  11. ^ “Thuyết về Chử Đồng Tử”. 
  12. ^ “Sỹ Nhiếp”. 
  13. ^ Tom De Rauw,, Beyond Buddhist apology: the political use of Buddhism by emperor Wu of the Liang Dynasty (r. 502-549)
  14. ^ “Chùa Non Đông - Đót Sơn Di Sản Bị Quên Lãng Của Hải Phòng”. 
  15. ^ [1] Tân Tạo Bồ đề La Hán ký
  16. '^ Tạo Thạch Phật Bi, bia ký hiệu số 9569-9570, hoàn thành năm Quý Mùi 1584, được lưu giữ tại Viện Viễn Đông Bác Cổ và được biên dịch bởi Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh
  17. ^ “Nơi đầu tiên thờ những vị thần giữ biển Đông”. 
  18. ^ Năm ông tượng hộ pháp to lớn ở Chùa trước khi bị phá, trong đó có một vị một tay chỉ thiên, một tay chỉ địa chính là Thiên vương tứ trấn gồm Ngài Đông Phương trì Quốc Thiên Vương, Nam Phương Tăng trưởng Thiên Vương, Tây Phương Quảng Mục Thiên Vương, Bắc Phương đa văn Thiên Vương và một vị Hộ pháp của Chùa Đót. Đây là điểm khác biệt của Chùa Đót Sơn so với các Chùa khác ở Việt. Hộ pháp tứ trấn Thiên vương cổ chỉ có thể tìm thấy ở Chùa Dâu, Bắc Ninh, vốn là Trung tâm Phật giáo Luy Lâu của Việt. Tượng Hộ pháp một tay chỉ Thiên, một tay chỉ Địa, giống hình tượng Đức Phật chào đời, thể hiện sự Duy ngã Độc tôn của Chùa Đót Sơn trong suốt giai đoạn lịch sử.
  19. ^ Trong cuốn hồi ký của Trung tướng Đặng Kinh “Giọt nước của Dòng sông”, Trung tướng Đặng Kinh mô tả: “Chiều 27-8-1953, tôi đang ở cơ quan Thanh Khê, Vĩnh Bảo thì nhận được tin báo của đài quan sát đặt tại gác chuông nhà thờ Thiết Chanh báo cáo có 4 tàu chiến và khoảng 20 ca nô đi từ cửa Văn Úc đã đến đầu sông Mới, đang rẽ về phía Ninh Giang (khu độc lập Vĩnh Ninh), cơ quan tham mưu tỉnh đội dự đoán ngay ngày mai địch càn Tiên Lãng… Tôi ăn sớm bữa chiều và 5 giờ khởi hành qua đò Đăng sang Tiên Lãng, qua xã Kiến Thiết về Kinh Lương xã Cấp Tiến, việc đầu tiên tôi báo cáo sang chỗ anh Phạm Minh ngày mai địch bắt đầu càn”, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, 2004, tr.175-176.
  20. ^ Theo hồ sơ xin công nhận Liệt sĩ cho hòa thượng Thích Thanh Dũng do Xã Cấp Tiến, huyện Tiên Lãng chuẩn bị, có xác nhận của nguyên Phó tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam, Trung tướng Đặng Kinh và nguyên Giám đốc Công An Thành phố Hải Phòng Hoàng Xuân Lâm, vào năm 1951, giặc Pháp do tướng Ba Phay cầm đầu ngày đêm càn quét, đốt phá nhà cửa, giết chóc người dân lương thiện trong huyện Tiên Lãng. Sư Thích Thanh Dũng đã cùng cán bộ và nhân dân trong thôn vận động rào làng chiến đấy, đàm hầm, đắp ụ ngăn xe cản địch. Sư cho đào hầm trong vọng cung chùa và trong khuôn viên của chùa để che giấu, nuôi dưỡng bảo vệ cán bộ du kích, bộ đội, cất giấu vũ khí, bảo vệ, nuôi dưỡng cơm nước chữa chạy cho thương binh tại hầm chùa. Chùa Đót Sơn là địa điểm làm Văn phòng của Ủy ban Kháng chiến hành chính xã từ năm 1945 đến hết năm 1947. Giai đoạn 1947-1950, Chùa là cơ sở chứa cán bộ, một đại đội Công an Hải Kiến do ông Hoàng Bát Sơn chỉ huy và là chỗ họp hành của Chi ủy và Ủy ban. Đất đai (8 mẫu ruộng), trâu bò, thực phẩm được dùng cho kháng chiến. Khi lực lượng du kích rút xuống hầm chùa, Sư Dũng là người đậy nắp khi cán bộ xuống. Chùa cũng là nơi để Ủy ban kháng chiến phát động tuần lễ ủng hộ Vàng cho kháng chiến và là nơi thành lập đội Du kích tập trung (đội vũ trang nòng cốt của cả khu vực. Chùa đã ủng hộ một quả chuông đồng nặng 600 kg, 01 pho tượng Cửu Long bằng đồng và 01 pho tượng Di lặc bằng đồng để Ban kháng chiến đúc vũ khí.
  21. ^ Báo Đời Sống Pháp Luật, trong ba ngày 11, 12, 13/12/2015, xuất bản ba kỳ về giả thuyết sử dụng Thiên Địa Nhân trong việc tìm mộ cụ Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm trong đó Chùa Đót Sơn được coi là Ngôi Bắc Thần. http://www.doisongphapluat.com/tin-tuc/tin-trong-nuoc/bai-1-gap-nguoi-ca-cuoc-doi-di-tim-loi-giai-mo-trang-trinh-a123632.html http://www.doisongphapluat.com/tin-tuc/tin-trong-nuoc/bai-2-thuyet-thien-dia-nhan-ung-voi-nhung-cau-sam-a123645.html http://www.doisongphapluat.com/tin-tuc/tin-trong-nuoc/bai-3-bi-an-mo-phan-trang-nguyen-binh-khiem-a123647.html
  22. ^ GS Sử học Lê Văn Lan, "Nên khơi thông các giá trị văn hóa truyền thống", Bảo vệ Pháp luật, số 37, 09.05.2014, trang 8
  23. ^ “Về vùng đất địa linh ở Hải Phòng”. 
  24. ^ http://dantri.com.vn/van-hoa/chuyen-khac-tren-van-bia-dinh-lang-kinh-luong-869753.htm.  |tựa đề= trống hay bị thiếu (trợ giúp)
  25. ^ http://www.nhandan.com.vn/vanhoa/di-san/item/23142502-noi-dau-tien-tho-nhung-vi-than-giu-bien-dong.html.  |tựa đề= trống hay bị thiếu (trợ giúp)
  26. ^ http://triviet24h.vn/van-hoa/doi-song-van-hoa/ve-vung-dat-dia-linh-o-hai-phong.html.  |tựa đề= trống hay bị thiếu (trợ giúp)
  27. ^ http://www.daophatngaynay.com/vn/mobile/phatgiao-vn/danh-lam/12753-Chua-Non-dong-Co-Tu-dot-Son-Tu-Di-San-Bi-Quen-Lang-Cua-Hai-Phong.html.  |tựa đề= trống hay bị thiếu (trợ giúp)