Chiến tranh Anh-Maratha lần thứ ba

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Chiến tranh Anh-Maratha lần thứ ba[1]
Một phần của Chiến tranh Anh-Maratha
Indian Camp Scene.jpg
Indian Camp Scene
Thời gianTháng 11 năm 1817 - tháng 4 năm 1819
Địa điểm
Trạng thái hiện đại của Maharashtra và các khu vực lân cận
Kết quả

Chiến thắng thuộc về Anh

  • Chính thức kết thúc quy tắc Peshwa.
  • Shinde, Holkar và Bhonsale chịu sự thống trị của vương quyền Anh.
  • Chhatrapati (Vua Maratha) được giữ lại dưới quyền thống trị của Anh.
  • Công ty Đông Ấn Anh kiểm soát Ấn Độ
Tham chiến

Flag of the Maratha Empire.svg Liên minh Maratha

Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland Đế quốc Anh

Chỉ huy và lãnh đạo
  • Flag of the Maratha Empire.svg Bapu Gokhale (Tướng của Peshwa Baji Rao II)
  • Flag of the Maratha Empire.svg Hari Rao Holkar
  • Flag of the Maratha Empire.svg Appa Saheb Bhonsle
  • Flag of the Maratha Empire.svg Malharrao Holkar III
  • Flag of the Maratha Empire.svg Trimbakji Dengle-Patil
  • Flag of the British East India Company (1801).svg Francis Rawdon-Hastings
  • Flag of the British East India Company (1801).svg John Malcolm
  • Flag of the British East India Company (1801).svg Thomas Hislop
  • Flag of the State of Hyderabad (18th century-1900).svg Asaf Jah III
  • Chiến tranh Anh-Maratha lần thứ ba (1817–1819) là cuộc xung đột cuối cùng và mang tính quyết định giữa Công ty Đông Ấn Anh (EIC) và Đế quốc MarathaẤn Độ. Cuộc chiến tranh đã giúp người Anh nắm quyền kiểm soát hầu hết tiểu lục địa Ấn Độ. Nó bắt đầu bằng một cuộc xâm lược lãnh thổ Maratha của quân đội Công ty Đông Ấn thuộc Anh.[2] Đội quân do Toàn quyền Ấn Độ Hastings chỉ huy, được hỗ trợ bởi một lực lượng dưới quyền của Tướng Thomas Hislop. Các chiến dịch bắt đầu chống lại Pindaris, một nhóm lính đánh thuê Hồi giáongười Marathi từ miền Trung Ấn Độ.

    Quân đội của Peshwa Baji Rao II, được hỗ trợ bởi lực lượng của Mudhoji II BhonsleNagpurMalharrao Holkar III của Nhà nước Indore, đã chống lại Công ty Đông Ấn. Áp lực quân sự và ngoại giao đã thuyết phục nhà lãnh đạo thứ tư của người Marathi, Daulatrao Shinde của Nhà nước Gwalior, giữ thái độ trung lập mặc dù ông ta đã mất quyền kiểm soát Rajasthan.

    Quân Anh nhanh chóng giành được chiến thắng, dẫn đến sự tan rã của Đế quốc Maratha. Peshwa đã bị đánh bại trong trận Khadkitrận Koregaon. Một số trận chiến nhỏ đã được thực hiện bởi lực lượng của Peshwa để ngăn chặn người Anh truy đuổi và bắt giữ ông.[3]

    Peshwa cuối cùng đã bị bắt và được người Anh giam lỏng tại điền trang nhỏ ở Bithoor, gần Kanpur. Phần lớn lãnh thổ của ông đã bị sáp nhập và trở thành một phần của Bombay Presidency. Maharaja của Satara đã được khôi phục với tư cách là người cai trị của phiên vương quốc dưới quyền bảo hộ của Anh. Năm 1848, lãnh thổ này cũng bị sáp nhập vào Bombay Presidency theo học thuyết vô hiệu của Lãnh chúa Dalhousie. Bhonsle bị đánh bại trong trận Sitabuldi và Holkar trong trận Mahidpur. Phần phía Bắc được thống trị bởi Bhonsle trong và xung quanh Nagpur, cùng với các vùng lãnh thổ của Peshwa ở Bundelkhand, đã bị sáp nhập vào Ấn Độ thuộc Anh với tên gọi Lãnh thổ Saugor và Nerbudda. Thất bại của Bhonsle và Holkar cũng dẫn đến việc người Anh mua lại các vương quốc Maratha của Nagpur và Indore. Cùng với Gwalior từ Shinde và Jhansi từ Peshwa, tất cả các lãnh thổ này đã trở phiên vương quốc thừa nhận quyền bảo hộ của Anh. Sự chuyên nghiệp của người Anh trong chiến trận tại Ấn Độ đã được thể hiện qua những chiến thắng nhanh chóng của họ ở Khadki, Sitabuldi, Mahidpur, Koregaon và Satara.[4]

    Maratha và Anh[sửa | sửa mã nguồn]

    Bản đồ Ấn Độ sau chiến tranh Anh-Maratha lần thứ hai, 1805

    Đế chế Maratha được thành lập vào năm 1674 bởi Shivaji của triều đại Bhosle.[5] Shivaji đã đứng đầu các nỗ lực kháng chiến nhầm giải phóng người Hindu khỏi Đế quốc MogulVương quốc Hồi giáo Bijapur, thiết lập quyền cai trị của người Hindu. Vương quốc này được gọi là Hindavi Swarajya ("sự tự trị của người Hindu") trong ngôn ngữ Marathi, kinh đô được đặt tại Raigad. Shivaji đã bảo vệ thành công đế chế của mình khỏi các cuộc tấn công của Đế chế Mogul và Đế chế Maratha của ông đã đánh bại và vượt qua sức mạnh của người Hồi giáo để trở thành cường quốc hàng đầu ở Tiểu lục địa Ấn Độ trong vòng vài thập kỷ. Một thành phần quan trọng của chính quyền Maratha là hội đồng gồm tám bộ trưởng, được gọi là Ashta Pradhan (hội đồng tám người). Thành viên cao cấp nhất của Ashta Pradhan được gọi là Peshwa hoặc Pant Pradhan (thủ tướng).

    Sức mạnh ngày càng tăng của Đế quốc Anh[sửa | sửa mã nguồn]

    Trong khi người Marathi đối đầu với Đế quốc Mogul trong đầu thế kỷ XVIII, người Anh đã nắm giữ các trạm buôn bán nhỏ ở Mumbai, MadrasCalcutta. Công ty Đông Ấn Anh đã tăng cường và củng cố căn cứ hải quân của mình ở Mumbai sau khi họ chứng kiến người Marathi đánh bại người Bồ Đào Nha tại nước láng giềng Vasai vào tháng 05/1739. Trong một nỗ lực để giữ người Marathi ở ngoài Mumbai, người Anh đã cử phái viên đến đàm phán một hiệp ước. Các phái viên đã thành công, và một hiệp ước được ký kết vào ngày 12/07/1739 cho phép Công ty Đông Ấn của Anh có quyền tự do thương mại trên lãnh thổ Đế quốc Maratha.[6] Ở phía Nam, Nizam của Hyderabad đã tranh thủ sự ủng hộ của người Pháp trong cuộc chiến chống lại người Marathi. Người Marathi đã lơ là sức mạnh đang lên của người Anh, các Peshwa đã tạo ra tiền lệ tìm kiếm sự giúp đỡ của họ để giải quyết các xung đột nội bộ Maratha.[7] Mặc dù thiếu sự hỗ trợ, người Marathi vẫn đánh bại được Nizam của Nhà nước Hyderabad trong khoảng thời gian 5 năm.[7]

    Trong giai đoạn 1750–1761, người Anh đã đánh bại Công ty Đông Ấn của Pháp ở Ấn Độ, và đến năm 1793, họ đã thành lập các trung tâm mậu dịch vững chắc ở BengalMadras, khống chế Đông và Nam tiểu lục địa Ấn Độ. Họ không thể mở rộng về phía Tây vì người Marathi đang chiếm ưu thế ở đó, nhưng họ đã tiến vào Surat nằm ở phía Tây tiểu lục địa bằng đường biển.[8]

    Người Marathi đã hành quân ra ngoài lưu vực Sông Ấn khi đế chế của họ phát triển cực thịnh.[8] Trách nhiệm quản lý Đế quốc Maratha rộng lớn ở phía Bắc được giao cho hai thủ lĩnh Maratha, Shinde và Holkar, vì Peshwa đang bận rộn ở phía Nam. [9] Hai nhà lãnh đạo đã không hành động cùng nhau và các chính sách của họ bị ảnh hưởng bởi lợi ích cá nhân và nhu cầu tài chính. Họ xa lánh các nhà cai trị Hindu khác như Rajputs, Jats và Rohillas, và họ không giành được chiến thắng về mặt ngoại giao trước các nhà lãnh đạo Hồi giáo khác.[9] Một đòn lớn đối với người Marathi sau thất bại của họ vào ngày 14/01/1761 tại Panipat trước một lực lượng Hồi giáo đã đánh bại người Marathi do Ahmad Shah Durrani người Afghanistan lãnh đạo. Cả một thế hệ lãnh đạo Maratha đã chết trên chiến trường do hậu quả của cuộc xung đột đó.[9] Tuy nhiên, giữa năm 1761 và 1773, người Marathi đã giành lại được vùng đất đã mất ở phía Bắc.[10]

    Mối quan hệ Anh-Maratha[sửa | sửa mã nguồn]

    Các lợi ích của Maratha ở phía bắc đã bị hủy bỏ vì các chính sách mâu thuẫn của Holkar và Shinde và những tranh chấp nội bộ trong gia đình Peshwa, mà đỉnh điểm là vụ giết hại Narayanrao Peshwa vào năm 1773.[11] Raghunath Rao bị lật đổ khỏi ghế Peshwa do sự tranh giành quyền lực trong nội bộ Maratha. Ông tìm kiếm sự giúp đỡ từ Công ty Đông Ấn Anh, và họ đã ký Hiệp ước Surat với ông vào tháng 03/1775.[12] Thông qua hiệp ước này, người Anh đã trợ giúp quân sự cho ông để đổi lấy quyền kiểm soát Đảo Salsette (hiện nay là ngoại ô Mumbai) và Pháo đài Bassein.[13]

    Hiệp ước đã gây ra các cuộc tranh cải giữa những nhà lãnh đạo người Anh ở Ấn Độ cũng như ở châu Âu, vì những tác động nghiêm trọng của cuộc đối đầu với Đế quốc Maratha hùng mạnh. Một nguyên nhân khác gây lo ngại là Hội đồng Bombay đã vượt quá thẩm quyền hiến định của mình khi ký một hiệp ước như vậy.[14] Hiệp ước là nguyên nhân bắt đầu Chiến tranh Anh-Maratha lần thứ nhất. Cuộc chiến này hầu như đã rơi vào bế tắc, hai bên đều không thể đánh bại nhau và giành chiến thắng trong cuộc chiến.[15] Chiến tranh kết thúc với Hiệp ước Salabai vào tháng 05/1782, do Mahadji Shinde làm trung gian. Tầm nhìn xa của Warren Hastings là nguyên nhân chính dẫn đến thành công của quân Anh trong cuộc chiến. Ông đã tiêu diệt liên minh chống Anh và tạo ra sự chia rẽ giữa Shinde, Bhonsle và Peshwa.

    Người Marathi vẫn ở vị trí rất mạnh khi vị Toàn quyền Ấn Độ mới của các vùng lãnh thổ do Anh kiểm soát là Bá tước Charles Cornwallis đến Ấn Độ vào năm 1786.[16] Sau hiệp ước Salabai, người Anh và Maratha theo đuổi chính sách cùng tồn tại ở phía Bắc. Anh và Maratha có hơn hai thập kỷ hòa bình, nhờ vào tài ngoại giao của Nana Fadnavis, một bộ trưởng trong triều đình của Peshwa Sawai Madhavrao (lúc đó chỉ mới 11 tuổi). Tình hình thay đổi ngay sau cái chết của Nana vào năm 1800. Cuộc tranh giành quyền lực giữa Holkar và Shinde khiến Holkar tấn công Peshwa ở Pune vào năm 1801, vì Peshwa đứng về phía Shinde. Peshwa Baji Rao II chạy trốn khỏi Pune đến nơi an toàn trên một tàu chiến của Anh. Baji Rao sợ mất quyền lực của mình nên đã ký Hiệp ước Bassein (1802) với người Anh. Điều này khiến Peshwa trên thực tế trở thành đồng minh phụ của người Anh.

    Để đáp trả lại việc thoả thuận giữa Anh và Peshwa, Bhonsle và Shinde đã tấn công người Anh, từ chối chấp nhận các điều khoản trong hiệp ước. Đây là thời điểm bắt đầu Chiến tranh Anh-Maratha lần thứ hai vào năm 1803. Cả hai đều bị đánh bại bởi người Anh, và tất cả các thủ lĩnh Maratha đều mất phần lớn lãnh thổ của họ vào tay Công ty Đông Ấn Anh.[15]

    Đọc thêm[sửa | sửa mã nguồn]

    Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

    Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

    Trích dẫn[sửa | sửa mã nguồn]

    1. ^ “Maratha Wars”. Britannica Encyclopædia.
    2. ^ Bakshi & Ralhan 2007, tr. 261.
    3. ^ Naravane 2006, tr. 79–86.
    4. ^ Black 2006, tr. 78.
    5. ^ Subburaj 2000, tr. 13.
    6. ^ Sen 1994, tr. 1.
    7. ^ a b Sen 1994, tr. 2.
    8. ^ a b Sen 1994, tr. 3.
    9. ^ a b c Sen 1994, tr. 4.
    10. ^ Sen 1994, tr. 4–9.
    11. ^ Sen 1994, tr. 9.
    12. ^ Sen 1994, tr. 10.
    13. ^ Sen 1994, tr. 10–11.
    14. ^ Sen 1994, tr. 11.
    15. ^ a b Schmidt 1995, tr. 64.
    16. ^ Sen 1994, tr. 17.

    Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

    Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]