Chiến tranh Lạnh II

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
trước chiến tranh lạnh Sự kiện năm 1956 ở Hungary để lại một dấu ấn lớn trong Khối Đông và cho thấy ranh giới nào họ sẵn sàng đi để bảo vệ ảnh hưởng chính trị của họ. Từ trái sang phải, theo hàng:
 • còn lại một tượng đài tàn phá, dài chín mét đến Stalin trong Budapest;
 • Một người bảo vệ bị sát hại trước trung tâm của Đảng Cộng sản;
 • Cờ chính thức của các nhà cách mạng Hungary trên đường phố thành phố; chúng được làm để áo choàng cộng sản bị cắt từ giữa;
 • Một nạn nhân chết chóc của một cuộc cách mạng trong công viên Karlovy Vody;
 • Xe tăng Liên Xô T-34 trên đường phố Budapest.
Châu Á rong suốt Chiến tranh Lạnh là một trong những tâm điểm khủng hoảng chính và là một trong những địa điểm quan trọng nhất nơi hai cuộc phong tỏa đã thể hiện sức mạnh. Ngoài ra, các sự kiện ở lục địa châu Á đã diễn ra sẽ ảnh hưởng lớn đến các sự kiện tiếp theo trong Chiến tranh Lạnh. Từ trái sang phải, theo hàng:

 • David Ben Gurion, thủ tướng đầu tiên Israel, công bố Tuyên ngôn độc lập của IsraelTel Aviv, 14 tháng 5 năm 1948.;
 • Sukarno đi cùng Mohammad Hatta công bố độc lập của IndonesiaJakarta, 17 tháng 8 năm 1945.;
 • máy bay chiến đấu Việt Minh Tôi đặt cờ của mình trên trung tâm chiến thắng của quân Pháp sau khi giành chiến thắng trận chiến cho Điện Biên Phủ;
 • Jawaharlal NehruMahatma Gandhi là những người ủng hộ chính nền độc lập của Ấn Độ và ảnh hưởng đến chính trị của bà và thế giới trong giai đoạn đầu của Chiến tranh Lạnh;

 • Cố gắng của Thủ tướng Iran Mohammad Mosaddegh trong phiên tòa xét xử chế độ của Pahlavi bị kết án đầu tiên trong tù, và sau đó là tù chung thân.

Chiến tranh Lạnh II[1][2] (còn gọi là Chiến tranh Lạnh mới[3][4][5] hoặc Chiến tranh Lạnh thứ hai)[6][7] là một thuật ngữ dùng để mô tả tình trạng căng thẳng chính trị và quân sự đang diễn ra giữa các khối quyền lực địa chính trị đối lập, với một khối thường được báo cáo là được dẫn dắt bởi Nga và / hoặc Trung Quốc và một khối khác do Hoa Kỳ, Liên minh châu ÂuNATO lãnh đạo[8]. Nó giống như Chiến tranh Lạnh ban đầu đã chứng kiến ​​một cuộc chiến tranh độc lập giữa các khối phương Tây do Hoa Kỳ dẫn đầu và Khối Đông do Liên Xô, người tiền nhiệm của Nga lãnh đạo.

Sử dụng thời kỳ ban đầu[sửa | sửa mã nguồn]

Các nguồn trong quá khứ[9][10][11], như các học giả Fred Halliday[12][13], Alan M. Wald[14], và David S. Painter[15], đã sử dụng các thuật ngữ hoán đổi cho nhau để chỉ năm 1979 Giai đoạn 1985 và / hoặc 1985–1991 của Chiến tranh Lạnh. Một số nguồn khác[16][17] đã sử dụng các thuật ngữ hoán đổi cho nhau để đề cập đến Chiến tranh Lạnh giữa những năm 1970. Nhà báo William Safire lập luận trong một biên tập của tờ New York Times năm 1975 rằng chính sách của chính quyền liên bang Nixon với Liên Xô đã thất bại và "Chiến tranh Lạnh II" hiện đang được tiến hành[18]. Gordon H. Chang năm 2007 đã sử dụng thuật ngữ "Chiến tranh Lạnh II" để chỉ thời kỳ Chiến tranh Lạnh sau cuộc họp năm 1972 tại Trung Quốc giữa Tổng thống Mỹ Richard Nixon và Chủ tịch Trung Quốc Mao Trạch Đông.[19]

Năm 1998, George Kennan đã kêu gọi Thượng viện Hoa Kỳ mở rộng NATO để bao gồm Ba Lan, Hungary và Cộng hòa Séc là "sự khởi đầu của một cuộc chiến tranh lạnh mới", và dự đoán rằng "người Nga sẽ dần dần phản ứng khá bất lợi và nó sẽ ảnh hưởng đến chính sách của họ".[20]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Dmitri Trenin (ngày 4 tháng 3 năm 2014). “Welcome to Cold War II”. Foreign Policy. Graham Holdings. Truy cập ngày 4 tháng 2 năm 2015. 
  2. ^ As Cold War II Looms, Washington Courts Nationalist, Rightwing, Catholic, Xenophobic Poland, Huffington Post, ngày 15 tháng 10 năm 2015.
  3. ^ Simon Tisdall (ngày 19 tháng 11 năm 2014). “The new cold war: are we going back to the bad old days?”. The Guardian. Guardian News and Media Limited. Truy cập ngày 4 tháng 2 năm 2015. 
  4. ^ Philip N. Howard (ngày 1 tháng 8 năm 2012). “Social media and the new Cold War”. Reuters. Reuters Commentary Wire. Truy cập ngày 2 tháng 8 năm 2016. 
  5. ^ Bovt, George (ngày 31 tháng 3 năm 2015). “Who Will Win the New Cold War?”. The Moscow Times. Truy cập ngày 28 tháng 1 năm 2016. 
  6. ^ Mackenzie, Ryan (ngày 3 tháng 10 năm 2015). “Rubio: U.S. 'barreling toward a second Cold War'. The Des Moines Register. USA Today. Truy cập ngày 28 tháng 1 năm 2016. 
  7. ^ Trenin, Dmitri (ngày 2 tháng 3 năm 2014). “The crisis in Crimea could lead the world into a second cold war”. The Guardian. Truy cập ngày 28 tháng 1 năm 2016. 
  8. ^ Powell, Bill (ngày 29 tháng 5 năm 2015). “A New Cold War, Yes. But It's With China, Not Russia”. Newsweek.com. Newsweek. Truy cập ngày 21 tháng 4 năm 2016. 
  9. ^ Scott, David (2007). China Stands Up: The PRC and the International System. Routledge. tr. 79–81. ISBN 978-0415402705. LCCN 2006038771 – qua Amazon.com. 
  10. ^ Christie, Daniel J.; Beverly G. Toomey (1990). “The Stress of Violence: School, Community, and World”. Trong L. Eugene Arnold; Joseph D. Noshpitz. Childhood Stress. New York City: John Wiley & Sons. tr. 305. ISBN 978-0471508687. Truy cập ngày 20 tháng 1 năm 2017 – qua Google Books. 
  11. ^ van Dijk, Ruud biên tập (2007). Encyclopedia of the Cold War. Taylor & Francis Group. ISBN 978-0-415-97515-5. LCCN 2007039661. Truy cập ngày 18 tháng 3 năm 2018. 
  12. ^ Halliday, Fred (1989). “The Making of the Cold”. The Making of the Second Cold War (ấn bản 2). Verso Books. ISBN 978-0860911449. Truy cập ngày 20 tháng 1 năm 2017 – qua Google Books. 
  13. ^ Edwards, Paul N. (1996). “Computers and Politics in Cold War II”. The Closed World: Computers and the Politics of Discourse in Cold War America. Massachusetts Institute of Technology. tr. 276. ISBN 9780262550284. Truy cập ngày 20 tháng 1 năm 2017 – qua Google Books. 
  14. ^ Wald, Alan M. (1987). The New York Intellectuals: The Rise and Decline of the Anti-Stalinist Left From the 1930s to the 1980s. University of North Carolina Press. tr. 344, 347. ISBN 978-0807841693. Truy cập ngày 20 tháng 1 năm 2017 – qua Google Books. 
  15. ^ Painter, David S. (1999). “The Rise and Fall of the Second Cold War, 1981–91”. The Cold War: An International History. Routledge. tr. 95–111. ISBN 0-415-19446-6 – qua Google Books. 
  16. ^ Richard Devetak; Jim George; Sarah Percy biên tập (2017). “Chapter 10: The Cold War and After”. An Introduction to International Relations (ấn bản 3). Cambridge University Press. tr. 161. Truy cập ngày 18 tháng 3 năm 2018. 
  17. ^ Smith, Joseph; Simon Davis (2017). “Introduction”. Historical Dictionary of the Cold War (ấn bản 2). ISBN 9781442281851. LCCN 2016049707. Truy cập ngày 18 tháng 3 năm 2018. 
  18. ^ Safire, William (ngày 29 tháng 12 năm 1975). “Cold War II”. The New York Times. Truy cập ngày 13 tháng 3 năm 2018. 
  19. ^ Chang, Gordon H. (tháng 6 năm 2008). “Review: Nixon in China and Cold War I and Cold War II”. Diplomatic History (Oxford University Press) 32 (3): 493. JSTOR 24915887. 
  20. ^ Friedman, Thomas L. (ngày 2 tháng 5 năm 1998). “Foreign Affairs; Now a Word From X”. The New York Times. Truy cập ngày 13 tháng 3 năm 2018.