Chi Địa liền

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Chi Địa liền
Kaemp galan 100614-3323 awr.jpg
Phân loại khoa học
Giới (regnum)Plantae
(không phân hạng)Angiospermae
(không phân hạng)Monocots
(không phân hạng)Commelinids
Bộ (ordo)Zingiberales
Họ (familia)Zingiberaceae
Phân họ (subfamilia)Zingiberoideae
Tông (tribus)Zingibereae
Chi (genus)Kaempferia
L., 1753
Loài điển hình
Kaempferia galanga
L., 1753
Các loài
Xem văn bản
Danh pháp đồng nghĩa
  • Monolophus Delafosse, Guill. & J.Kuhn, 1830?Gc
  • Tritophus T.Lestib., 1841
  • Zerumbet Garsault, 1764 nom. inval. không J.C.Wendl., 1798 nom. rej. không T.Lestib., 1841
  • Kaempfera L., 1753 orth var.[1]

Chi Địa liền (tên khoa học Kaempferia) là một chi thực vật thuộc họ Gừng.

Lịch sử phân loại[sửa | sửa mã nguồn]

Kaempferia được Carl Linnaeus công bố trong Species Plantarum năm 1753 với 2 loài là K. galangaK. rotunda.[2] Tên chi là để vinh danh nhà tự nhiên học người Đức Engelbert Kaempfer (1651-1716),[1] người đã mô tả K. galanga dưới tên gọi wanhom trong Amoenitatum exoticarum năm 1712.[3]

Phân loại đầu tiên để gộp các loài Kaempferia trong các đơn vị phân loại dưới cấp chi do Horaninow (1862) thực hiện. Ông chia Kaempferia thành 2 đơn vị phân loại không phân hạng là SoncorusProtanthium. Soncorus được mô tả là ‘flores centrales’ (hoa trung tâm) và Protanthium là ‘flores praecoces, ante folia e caudice projecti’ (hoa sớm ra, trước khi có lá và nhô ra từ thân [rễ]). Horaninow đặt Kaempferia galanga và 7 loài khác trong nhóm Soncorus (gồm K. galanga, K. marginata, K. latifolia, K. roscoeana, K. angustifolia, K. undulata, K. ovalifoliaK. pandurata) còn K. rotunda cùng 2 loài khác trong nhóm Protanthium (bao gồm K. rotunda, K. candida, K. diversifolia).[4]

Bentham & Hooker (1883) coi các đơn vị phân loại không phân hạng của Horaninow là các tổ (sectio) và bổ sung tổ thứ ba là Stachyanthesis, trong đó họ đặt K. scaposa (nay là Curcuma scaposa) và K. rosea (nay là Siphonochilus kirkii).[5]

Baker (1890) ghi nhận 22 loài, nâng cấp 3 tổ này thành 3 phân chi (Sincorus, Protanthium, Stachyanthesis) và bổ sung phân chi thứ tư là Monolophus (bao gồm K. siphonantha, K. elegans, K. macrochlamys, K. linearis, K. sikkimensis, K. secunda, K. parvula),[6] hiện nay được coi là chi Monolophus hoặc Caulokaempferia (một nhóm tác giả Thái Lan bảo vệ quan điểm duy trì chi Caulokaempferia, trong khi những người khác công nhận chi Monolophus). Chi tiết cụ thể xem các bài về MonolophusCaulokaempferia và xem các nguồn kèm theo: Duy trì Caulokaempferia;[7][8] và duy trì Monolophus.[9][10]

Cuối cùng, Schumann (1904) công nhận phân chi thứ năm là Cienkowskia để chứa các loài ở châu Phi;[1] hiện nay đã được tách ra thành chi Siphonochilus.[11]

Kam (1980) chỉ ra rằng phân chi Sincorus bao gồm loài điển hình của chi, và vì thế phải có tên gọi là phân chi Kaempferia và tên gọi Sincorus là không hợp lệ. Bà tạm thời công nhận 3 nhóm như là các tổ của các loài châu Á là tổ Kaempferia (nhóm K. galanga), tổ Protanthium (nhóm K. rotunda) và tổ Stachyanthesis chỉ có một đơn vị phân loại là K. scaposa.[12]

Mô tả[sửa | sửa mã nguồn]

Thân rễ mọng, dạng củ; rễ thường mang các củ nhỏ. Thân giả ngắn hoặc teo đi. Lá từ 1 đến một vài; lưỡi bẹ thường nhỏ hoặc không có; cuống lá ngắn; phiến lá từ gần tròn đến hình chỉ, đôi khi lốm đốm màu hoặc màu tía ở mặt xa trục. Cụm hoa đầu cành trên thân giả hoặc trên các chồi riêng biệt mọc từ thân rễ (khi xuất hiện trước thân giả), hình đầu, từ ít đến nhiều hoa sắp xếp kiểu xoắn ốc; lá bắc 1 hoa; lá bắc con nhỏ, đỉnh 2 thùy hoặc đôi khi 2 khe tới đáy. Đài hoa hình ống, chẻ 1 bên, đỉnh 2-3 răng không đều. Ống tràng dài bằng hoặc dài hơn nhiều so với đài hoa; các thùy tràng tỏa rộng hoặc uốn ngược, hình mác, gần bằng nhau. Nhị lép bên dạng cánh hoa. Cánh môi thường màu trắng hoặc màu tím hoa cà, đôi khi tô điểm bằng các màu khác nhau ở gần đáy, sặc sỡ, đỉnh 2 thùy đến 2 khe tới đáy. Chỉ nhị rất ngắn hoặc không có; mô liên kết kéo dài thành mào thò ra từ họng hoa, nguyên hoặc 2 khe. Bầu nhụy 3 ngăn. Quả nang hình cầu hoặc elipxoit; vỏ quả ngoài mỏng. Hạt gần hình cầu tới elipxoit; áo hạt xé rách.[13]

Về mặt hình thái, Kaempferia rất giống với BoesenbergiaScaphochlamys. Cả KaempferiaBoesengergia đều có 1 hoa trong nách mỗi lá bắc, với 1-2 lá bắc con. Trái với kiểu sắp xếp lá bắc không phải 2 tầng và thường là với cánh môi phẳng và 2 thùy của Kaempferia, thì các lá bắc của Boesenbergia sắp xếp 2 tầng và cánh môi thường là hình túi với phần xa thường nguyên hoặc khía tai bèo và thường với ánh đỏ về phía đỉnh. Các đặc trưng này là đủ khác biệt để phân biệt hai chi này.[14][15]

Các thân rễ của Kaempferia hoặc là có các thành phần mọng và ngắn hoặc là có các rễ ra củ mọng, trong khi các thân rễ của Scaphochlamys ít mọng, thường bò lan dài. Cụm hoa ngắn và cô đặc của Kaempferia bao gồm một hoa trong mỗi lá bắc. Kèm theo hoa hoặc là 1 lá bắc con 2 thùy chẻ sâu ít hay nhiều hoặc là 2 lá bắc con tách biệt và hẹp. Cánh môi 2 thùy chẻ sâu (trừ K. parviflora), mào bao phấn thường lớn và hình cánh hoa, chỉ nhị luôn luôn rất ngắn, trong khi các cụm hoa của Scaphochlamys bao gồm một vài hoa trong mỗi lá bắc; tuy nhiên, cánh môi không bao giờ là 2 thùy chẻ sâu như vậy, và chỉ nhị luôn luôn hiện diện.[14][16]

Kaempferia cũng có liên quan đến Cornukaempferia về kiểu phát triển nói chung. Tuy nhiên, các loài Kaempferia luôn tạo ra mào bao phấn lớn, phẳng, hình cánh hoa, không bao giờ giống như Zingiber, như ở chi Zingiber. Ngoài ra, Kaempferia cũng có thể phân biệt được bằng các lá bắc con 2 thùy nhiều hay ít của nó và cánh môi 2 thùy, trong khi lá bắc con không có và cánh môi nguyên ở Cornukaempferia.[17]

Danh sách các loài[sửa | sửa mã nguồn]

Danh sách 43 loài dưới đây lấy theo POWO,[18] cộng 8 loài mô tả lần đầu tiên năm 2020.

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

Ghi chú.^ Xem tranh luận về việc tranh chấp tên gọi MonolophusCaulokaempferia tại các nguồn Intharapichai et al. (2014), Picheansoonthon et al. (2016), Mood et al. (2014) và Veldkamp (2016).[7][8][9][10]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a b c Schumann K.M. 1904. IV. 46. Zingiberaceae: Kaempfera. Trong Engler H. G. A. (chủ biên) Das Pflanzenreich (Heft 20): 64–88.
  2. ^ Linnaeus C., 1753. Kaempferia. Species Plantarum 1: 2-3.
  3. ^ Kaempfer E., 1712. Wanhom. Amoenitatum exoticarum 901-903.
  4. ^ Horaninow P. 1862. Kaempferia. Prodromus Monographiae Scitaminearum Additis Nonnullis de Phytographia, de Monocotyleis et Orchideis 21-22, doi:10.5962/bhl.title.44562.
  5. ^ Bentham G. & Hooker J. D. (chủ biên). 1883. Kaempferia. Genera Plantarum 3: 641-642, doi:10.5962/bhl.title.747.
  6. ^ Baker J. G. 1890. Scitamineae: Kaempferia. Trong Hooker J. D. (chủ biên) Flora of British India 6: 218–224. doi:10.5962/bhl.title.678.
  7. ^ a b Intharapichai K., Phokham B., Wongsuwan P. & Picheansoonthon C., 2014. The genus Caulokaempferia (Zingiberaceae) in Vietnam. J. Jap. Bot. 89: 129-136.
  8. ^ a b Picheansoonthon C., 2016. Nomenclatural controversy between Caulokaempferia and Monolophus (Zingiberaceae). Fol. Malaysiana 17: 67-74.
  9. ^ a b J. D. Mood, J. F. Veldkamp, S. Dey & L. M. Prince, 2014. Nomenclatural changes in Zingiberaceae: Caulokaempferia is a superfluous name for Monolophus and Jirawongsea is reduced to Boesenbergia. Gardens’ Bulletin Singapore 66(2): 215-231.
  10. ^ a b Veldkamp J. F., 2016. The valid publication of Monolophus (Zingiberaceae) revisited. Gardens’ Bulletin Singapore 68(1): 173-174, doi:10.3850/S2382581216000120.
  11. ^ Burtt B. L., 1982. Cienkowskiella and Siphonochilus. Notes from the Royal Botanic Garden Edinburgh 40 (2): 369–373.
  12. ^ Kam Y. K. 1980. Taxonomic studies in the genus Kaempferia (Zingiberaceae). Notes RBG Edinb. 38: 1-12.
  13. ^ Kaempferia trong Flora of China. Tra cứu ngày 28-6-2021.
  14. ^ a b Holttum R. E., 1950. Zingiberaceae of the Malay Peninsula: Kaempferia. The Gardens’s Bulletin Singapore 13: 117-123.
  15. ^ Holttum R. E., 1950. Zingiberaceae of the Malay Peninsula: Boesengergia. The Gardens’s Bulletin Singapore 13: 106-117.
  16. ^ Holttum R. E., 1950. Zingiberaceae of the Malay Peninsula: Scaphochlamys. The Gardens’s Bulletin Singapore 13: 82-105.
  17. ^ Mood J., Larsen K., 1997. Cornukaempferia, a new genus of Zingiberaceae from Thailand. Nat. Hist. Bull. Siam. Soc. 45: 217-221.
  18. ^ Kaempferia trong Plants of the World Online. Tra cứu ngày 28-6-2021.
  19. ^ Trần Thị Kiều Vân, Nguyễn Phi Ngà, Lê Văn Sơn, Hoàng Việt, 2018. Kaempferia champasakensis Pichean. & Koonterm (Zingiberaceae) – một ghi nhận mới cho hệ thực vật Việt Nam. Tạp chí Phát triển Khoa học & Công nghệ: Chuyên san Khoa học Tự nhiên 2(1): 13-18, doi:10.32508/stdjns.v2i1.668.