Chi Lãnh sam

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Chi Lãnh sam
Khoảng thời gian tồn tại: 49–0 triệu năm trước đây Eocene - nay[1]
Abies koreana (szyszki).JPG
Quả nón và tán lá của lãnh sam Hàn Quốc (Abies koreana)
Phân loại khoa học e
Giới: Plantae
nhánh: Tracheophyta
Ngành: Pinophyta
Lớp: Pinopsida
Bộ: Pinales
Họ: Pinaceae
Phân họ: Abietoideae
Chi: Abies
Mill.
Loài điển hình
Abies alba
Mill.
Bộ lá của Abies grandis.
Quả nón của lãnh sam Bulgari trước và sau khi bị tan rã
Tán lá của Abies alba từ rừng linh sam đá vôi Dinaric trên đỉnh Orjen.

Chi Lãnh sam, còn có tên Hán Việt là linh sam (tên phiên sai nhưng được từ điển Hồ Ngọc Đức, Babylon ghi nhận) (danh pháp khoa học: Abies) là một chi của khoảng 45-55 loài cây có quả nón và thường xanh trong họ Thông (Pinaceae). Ở Việt Nam, tên linh sam bị gọi sai thành cây Ba chia/ba gai thuộc họ Đậu do một người chơi cây đặt sai và trở thành tên sai phổ biến. Tất cả các loài đều là cây thân gỗ, cao khoảng 10–80 m và đường kính thân cây khoảng 0,5–4 m khi trưởng thành. Lãnh sam có thể được phân biệt với các thành viên khác của họ thông nhờ các yếu tố như các lá hình kim của chúng được gắn với các cành nhỏ bằng gốc lá giống như một giác mút nhỏ, hay các quả nón mọc thẳng, hình trụ, dài 5–25 cm bị tan rã ra khi chín để giải phóng các hạt nhỏ có cánh. Việc nhận dạng các loài dựa trên kích thước và sự sắp xếp của các lá, hay kích thước và hình dạng của quả nón cũng như việc các vảy lá bắc là dài, thò ra hoặc ngắn và bị che khuất trong nón. Chúng có quan hệ họ hàng gần gũi nhất với tuyết tùng (chi Cedrus). Lãnh sam được tìm thấy tại phần lớn khu vực Trung và Bắc Mỹ, châu Á, châu Âu và Bắc Phi, trong các dãy núi thuộc phần lớn các khu vực này.

Lãnh sam bị ấu trùng của một số loài côn trùng thuộc bộ Lepidoptera phá hại, như Chionodes abella (thấy trên lãnh sam trắng), Epirrita autumnata, Korscheltellus gracilis (phá hại lãnh sam nhựa thơm), Ectropis crepuscularia, Eupithecia subfuscata, Erannis defoliariaPanolis flammea.

Phân loại[sửa | sửa mã nguồn]

Sử dụng[sửa | sửa mã nguồn]

Gỗ của phần lớn các loài lãnh sam được coi là kém chất lượng, thông thường để làm bột giấy hoặc sản xuất gỗ dán và các loại gỗ mộc thô. Lãnh sam Nordmann, lãnh sam Noble, lãnh sam Fraserlãnh sam nhựa thơm rất phổ biến trong vai trò của cây thông Giáng Sinh, nói chung được coi là các loài cây tốt nhất cho mục đích này, với các tán lá thơm mà không rụng nhiều lá khi bị khô đi. Nhiều loài được sử dụng làm cây trang trí trong vườn, đáng chú ý là lãnh sam Hàn Quốc và lãnh sam Fraser, chúng sinh ra các quả nón có màu sắc sáng màu khi còn non, thậm chí khi chỉ cao 1–2 m.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên Schorn01

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Schorn, Howard; Wehr, Wesley (1986). “Abies milleri, sp. nov., from the Middle Eocene Klondike Mountain Formation, Republic, Ferry County, Washington”. Burke Museum Contributions in Anthropology and Natural History. 1: 1–7.
  • Seneta, Włodzimierz (1981). Drzewa i krzewy iglaste (Coniferous trees and shrubs) (bằng tiếng Ba Lan) (ấn bản 1). Warsaw: Państwowe Wydawnictwo Naukowe (PWN). ISBN 978-83-01-01663-0.
  • CSDL Thực vật hạt trần - Abies Lưu trữ 2010-12-15 tại Wayback Machine
  • Arboretum de Villardebelle các hình ảnh quả nón của một số loài
  • Philips, Roger. Trees of North America and Europe, Random House, Inc., New York ISBN 0-394-50259-0, 1979.
  • Platt, Karen "Gold Fever" provides descriptions of golden or yellow-leaved Abies cultivars