Conor McGregor

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Chúa hề
Conor McGregor, UFC 189 World Tour London (2).jpg
McGregor tháng 3 năm 2015
SinhConor Anthony McGregor
14 tháng 7, 1988 (33 tuổi)
Dublin, Ireland
Tên khácThe Notorious
Quốc tịchIreland
Cao5 ft 9 in (1,75 m)[1]
Nặng155 lb (70 kg; 11,1 st)[1]
Hạng cânHạng lông
Hạng nhẹ
Sải tay74,0 in (188 cm)[2]
Đến từDublin, Ireland
ĐộiSBG Ireland
HạngĐai nâu trong môn nhu thuật Brasil dưới sự hướng dẫn của John Kavanagh[3]
Năm hoạt động2008 đến nay
Sự nghiệp Mixed Martial Arts
Tổng26
Thắng22
Knockout17
Submission1
Phán quyết của trọng tài1
Thua4
Submission4
Sự nghiệp nghiệp dư
Tổng1
Thắng1
Knockout1
Thua0
Thông tin khác
Thành tích MMA trên Sherdog

Conor McGregor (sinh ngày 14 tháng 7 năm 1988)[4] là một vận động viên môn Mixed Martial Arts người Ireland, hiện đang thi đấu hạng nhẹ của Ultimate Fighting Championship. McGregor là cựu vô địch hạng lông và hạng nhẹ Cage Warriors. Anh cũng là người đầu tiên trong lịch sử UFC cùng lúc nắm giữ cả hai chức vô địch UFC Featherweight và UFC Lightweight và là người thứ 3 trong lịch sử vô địch ở 2 hạng cân khác nhau.

Tính đến 14 tháng 12 năm 2015, xét chung về mọi mặt anh ở vị trí số 3 xếp hạng UFC chính thức và là đấu sĩ xếp số 1 hạng lông và số 5 thế giới theo Sherdog[1][5][6].

Ngày 12 tháng 12 năm 2015, Conor McGregor hạ gục José Aldo chỉ sau 13 giây trong hiệp 1 tại trận tranh chức vô địch hạng lông UFC 194. Đây là chiến thắng trong thời gian ngắn nhất trong lịch sử UFC[7].Tại UFC 205 ngày 12 tháng 11 năm 2016, Conor McGregor đánh bại Eddie Alverez tại hiệp 2 để chính thức trở thành nhà vô địch hạng nhẹ (Lightweight).

McGregor sau đó thách đấu vô địch võ quyền anh Floyd Mayweather Jr., người chưa từng thua trận chuyên nghiệp nào. Vào ngày 26 tháng 8 năm 2017, trong trận đấu chuyên nghiêp quyền anh đầu tiên, ông bị Floyd Mayweather Jr. đánh gục kỹ thuật (TKO) trong hiệp thứ 10.[8] Ngày 24 tháng 1 năm 2020 tại UFC 257, anh có trận tái đấu với Dustin Poirier và đã để thua TKO trong hiệp 2.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Conor McGregor sinh ra tại Dublin, Ireland, là con út Tony và Mags McGregor, cha mẹ anh kết hôn vào năm 1980. Conor có một chị gái Erin (sinh năm 1981). Ông nội Anh là người Ireland còn bà nội là người Anh. Cha của anh đã bắt đầu cuộc sống ở Liverpool, Anh, đã được chuyển đến sống với người thân ở Dublin sau khi ông bà ly thân[1].

Conor lớn lên ở Crumlin, Dublin, nơi anh đã phát triển niềm đam mê thể thao, chơi bóng đá. Khi còn trẻ, anh chơi bóng đá cho Câu lạc bộ bóng đá Lourdes Celtic và là cổ động viên câu lạc bộ Manchester United tại Premier League[9].

Năm 2006, ở tuổi 17, McGregor cùng gia đình chuyến đến Lucan ở phía tây Dublin, nơi cậu bắt đầu học việc làm thợ đường ống dẫn nước[10]. Trong khi ở Lucan, cậu bắt đầu cùng đấu với n, người sau này là đấu sĩ vô địch Fighting Championship (UFC), Tom Egan đã dạy McGregor kỹ thuật đánh và truyền đam mê môn mixed martial arts cho cậu[11].

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a b c d UFC profile - Conor McGregor; accessed ngày 4 tháng 11 năm 2015.
  2. ^ “Fight Card – UFC 178 Johnson vs. Cariaso”. UFC.com. Truy cập ngày 30 tháng 9 năm 2014.
  3. ^ Gile Huni (ngày 28 tháng 9 năm 2014). “Conor McGregor Promoted To BJJ Brown Belt After KO Win Over Poirier”. BJJ Eastern Europe.
  4. ^ “MIXED MARTIAL ARTS SHOW RESULTS” (PDF). Boxing.nv.gov. Truy cập ngày 23 tháng 10 năm 2014.
  5. ^ “Sherdog's Official Mixed Martial Arts Rankings”. sherdog.com.
  6. ^ “Sherdog.com's Pound-for-Pound Top 10”. sherdog.com.
  7. ^ “Conor McGregor knocks out Jose Aldo in 13 seconds”. Irish News. ngày 13 tháng 12 năm 2015.
  8. ^ “Floyd Mayweather-Conor McGregor fight finalized for Aug. 26”. Truy cập ngày 26 tháng 8 năm 2017.
  9. ^ “Conor McGregor tells us three things you may not have known about him”. Independent.ie.
  10. ^ “EXCLUSIVE Conor McGregor: The haters pay their money in the hope of seeing me face down in a pool of my own blood”. Independent.ie.
  11. ^ “What did Conor McGregor do to get his kicks before UFC super-stardom?”. Independent.ie.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]