Dasyuridae

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Họ Dasyuridae[1]
SpottedQuoll 2005 SeanMcClean.jpg
Mèo túi hổ (Dasyurus maculatus)
Phân loại khoa học
Giới (regnum)Animalia
Ngành (phylum)Chordata
Lớp (class)Mammalia
Phân thứ lớp (infraclass)Marsupialia
Bộ (ordo)Dasyuromorphia
Họ (familia)Dasyuridae
(Goldfuss, 1820)[1]
Các phân họ & tông

Họ Dasyuridae là một họ thú có túi có nguồn gốc từ ÚcNew Guinea, gồm 75 loài còn sinh tồn được chia thành 21 chi. Nhiều loài có kích thước nhỏ, và bề ngoài nhìn giống chuột hoặc chuột chù, nên một vài loài được gọi là chuột có túi hoặc chuột chù có túi, nhưng nhóm này cũng gồm những loài mèo túi có kích thước như loài mèo, cũng như quỷ Tasmania. Chúng được tìm thấy trong một loạt các môi trường sống, bao gồm đồng cỏ, dưới lòng đất, rừngnúi, và một số loài sống trên cây hoặc bán thủy sinh. Họ này được Goldfuss miêu tả năm 1820.[1]

Nét đặc trưng[sửa | sửa mã nguồn]

Đa số các loài họ này có kích thước gần bằng chuột, nhưng một số loài lớn hơn nhiều. Loài nhỏ nhất là Ningaui timealeyi, có chiều dài từ 4,6 đến 5,7 cm và nặng chỉ 2 đến 9 g, trong khi loài lớn nhất, quỷ Tasmania, dài 57 đến 65 cm và nặng từ 6 đến 8 kg. Các loài nhỏ hơn thường trông giống chuột chù hoặc chuột về ngoại hình, với đuôi dài và mũi hẹp, nhọn. Các loài lớn hơn có ngoại hình tương đồng với các loài ăn thịt nhau thai như cầy mangut hoặc chồn.[2]

Nhiều tính năng của các loài này được xem là nguyên thủy, nghĩa là chúng có những đặc điểm giống với các loài thú có túi sớm nhất, từ đó các loài khác như kangaroobandicoot, sau đó tách ra. Ví dụ, tất cả các ngón chân của chúng đều lìa ra, trong khi ở nhiều loài thú có túi khác, ngón chân thứ hai và thứ ba được kết hợp lại. Tương tự như vậy, nhiều loài thiếu túi, thay vào đó có một nếp gấp da đơn giản bao quanh các núm vú để bảo vệ những con non đang phát triển của chúng. Răng của chúng cũng được coi là nguyên thủy, và khác với các loài thú có túi khác, với công thức răng hàm là: .

Chúng chủ yếu ăn côn trùng, nhưng chúng cũng ăn thằn lằn nhỏ, trái câyhoa. Một trong số ít trường hợp ngoại lệ cho quy tắc này là quỷ Tasmania, chủ yếu sống dựa vào xác chết của các động vật có xương sống.[2] Chúng có đường tiêu hóa tương đối đơn giản, điển hình như các loài ăn côn trùngăn thịt khác.

Con cái mang thai kéo dài từ 12 đến 16 ngày, và kết quả là sinh ra từ 2 đến 12 con, tùy theo loài. Các loài nhỏ hơn thường sinh sản ít nhất hai lần mỗi năm, trong khi các loài lớn hơn có xu hướng sinh sản chỉ một lần mỗi năm. Thời gian cho con bú phản ánh điều này, ví dụ như các con dunnart non, được cai sữa sau 60–70 ngày, nhưng mèo túi con thì sau 8–9 tháng. Đa số các loài họ này trưởng thành về mặt tình dục khi chúng được một năm tuổi, nhưng, một lần nữa, mèo túi và quỷ Tasmania, là các loài lớn hơn, mất nhiều thời gian hơn để trưởng thành và không trưởng thành hoàn toàn cho đến khi chúng khoảng hai năm tuổi.[2]

Các con trưởng thành thường sống đơn độc, hoặc đi trong các nhóm nhỏ gồm hai đến ba cá thể.

Phân loại[sửa | sửa mã nguồn]

Họ Dasyuridae

Hình ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â Groves, Colin (16 tháng 11 năm 2005). Wilson D. E. và Reeder D. M. (chủ biên), biên tập. Mammal Species of the World . Nhà xuất bản Đại học Johns Hopkins. tr. 23–37. ISBN 0-801-88221-4.  Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ: tên “msw3” được định rõ nhiều lần, mỗi lần có nội dung khác
  2. ^ a ă â Lee, A.K. (1984). Macdonald, D., biên tập. The Encyclopedia of Mammals. New York: Facts on File. tr. 838–845. ISBN 0-87196-871-1.  Đã bỏ qua tham số không rõ |url-access= (trợ giúp)

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]