Eocallionymus papilio

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Eocallionymus papilio
Phân loại khoa học
Giới (regnum)Animalia
Ngành (phylum)Chordata
Nhánh Craniata
Phân ngành (subphylum)Vertebrata
Phân thứ ngành (infraphylum)Gnathostomata
Liên lớp (superclass)Osteichthyes
Lớp (class)Actinopterygii
Nhánh Actinopteri
Phân lớp (subclass)Neopterygii
Phân thứ lớp (infraclass)Teleostei
Nhánh Osteoglossocephalai
Nhánh Clupeocephala
Nhánh Euteleosteomorpha
Nhánh Neoteleostei
Nhánh Eurypterygia
Nhánh Ctenosquamata
Nhánh Acanthomorphata
Nhánh Euacanthomorphacea
Nhánh Percomorphaceae
Nhánh Syngnatharia
Bộ (ordo)Syngnathiformes
Họ (familia)Callionymidae
Chi (genus)Eocallionymus
Nakabo, 1982
Loài (species)E. papilio
Danh pháp hai phần
Eocallionymus papilio
(Günther, 1864)
Danh pháp đồng nghĩa
Callionymus papilio Günther, 1864

Eocallionymus papilio là danh pháp khoa học của một loài cá biển trong họ Cá đàn lia, đặc hữu vùng bờ biển Australia, từ tây nam Tây Úc gần Perth đến miền trung New South Wales, bao gồm cả vùng bờ biển Tasmania, nơi nó được tìm thấy đến độ sâu khoảng 50 mét (160 ft).[1][2] Loài này có thể dài tới 10 xentimét (3,9 in).[1] Nó là loài duy nhất đã biết đến của chi Eocallionymus.[3]

Từ nguyên[sửa | sửa mã nguồn]

Eocallionymus bắt nguồn từ các từ trong tiếng Hy Lạp: Ἠώς (Ēṓs, eos) = rạng đông + καλός/κάλλος (kalós, kallós) = đẹp + ὄνυμα (onyma) = tên.[1]

Papilio bắt nguồn từ tiếng Latinh pāpiliō = bướm.

Mô tả[sửa | sửa mã nguồn]

Các tên gọi thông thường trong tiếng Anh của nó là painted stinkfish (cá hôi thiu sặc sỡ, do có bề ngoài khá giống với common stinkfish (cá hôi thiu thông thường (Foetorepus calauropomus), loài cá với lớp nhớt trên da có mùi chua nồng của thực phẩm thiu thối.[4][5] Lớp nhớt này có vị đắng và có thể có độc), painted dragonet (cá đàn lia sặc sỡ) hay butterfly dragonet (cá đàn lia bướm).[6]

Nó có các vết màu sặc sỡ trên mặt và trên vây lưng. Là loài cá sống đáy nên nó dành phần lớn thời gian sục sạo kiếm ăn trên vùng đáy nơi nhiều cỏ biển hoặc các đáy nhiều bùn, cát hay vỏ sò vỏ ốc và thường vùi mình trong cát. Nói chung nó sinh sống trong các cửa sông được che chắn, nhưng cũng được tìm thấy trong các ám tiêu đá duyên hải. Là loài cá nhỏ nên khó có thể tìm thấy, đặc biệt là do nó có khả năng hòa mình rất tốt với môi trường xung quanh. Là loài cá lưỡng sắc giới tính. Cá đực có màu tươi hơn nhiều so với cá cái và màu sắc giữa các cá thể có thể thay đổi mạnh. Cá đực có một mẫu hình đốm phía trên và sọc dọc phía dưới trong khi cá cái cũng có đốm phía trên nhưng là các vết màu phía dưới. Ngoài ra, vây lưng đầu tiên ở cá đực lớn hơn và nhiều màu sắc hơn so với ở cá cái.[2] Những con đực và cái đã được quan sát thấy bơi đến cạnh nhau ở phía đáy và sau đó cùng nhau bơi lên phía trên khi giao phối. Chúng nổi lên với vây bụng cọ sát nhau để có thể sinh đẻ, trứng sẽ trôi đi trong cột nước và ấu trùng là sinh vật phù du. Nơi tốt nhất để tìm cá đàn lia bướm là tìm kiếm chúng giữa những vườn hải miên và đồng cỏ biển ở các cửa sông được che chắn.

Vây lưng: Gai 4, tia mềm 7. Vây hậu môn: Gai 0, tia mềm 6-7. Vây đuôi giống như hình quạt.[1]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b Thông tin Eocallionymus papilio trên FishBase, chủ biên Ranier Froese và Daniel Pauly. Phiên bản tháng 4 năm 2019.
  2. ^ a ă Painted Stinkfish, Eocallionymus papilio (Günther, 1864)
  3. ^ Chủ biên Ranier Froese và Daniel Pauly. (2019). Các loài trong Eocallionymus trên FishBase. Phiên bản tháng 4 năm 2019.
  4. ^ Bray D. J., 2018. Foetorepus calauropomus trong Fishes of Australia. Tra cứu 11 tháng 9 năm 2019.
  5. ^ Thông tin Foetorepus calauropomus trên FishBase, chủ biên Ranier Froese và Daniel Pauly. Phiên bản tháng 4 năm 2019.
  6. ^ Dianne J. Bray, Eocallionymus papilio trong Fishes of Australia. Tra cứu 11 tháng 9 năm 2019.