Exeter

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Exeter
City of Exeter
—  CityHuyện không thuộc vùng đô thị  —
Theo chiều kim đồng hồ: The Cathedral, The Clock Tower, Devon County Hall, Cathedral Close, The Iron Bridge.
Theo chiều kim đồng hồ: The Cathedral, The Clock Tower, Devon County Hall, Cathedral Close, The Iron Bridge.
Khẩu hiệuSemper fidelis (Always Faithful)
Huyện Exeter bao gồm Topsham, thuộc Devon
Huyện Exeter bao gồm Topsham, thuộc Devon
Exeter trên bản đồ Thế giới
Exeter
Exeter
Quốc gia độc lậpVương quốc Liên hiệp Anh
NướcAnh
VùngSouth West England
Hạt nghi lễDevon
CityTime immemorial
Huyện không thuộc vùng đô thị1974
Chính quyền
 • KiểuHội đồng thành phố Exeter
 • Thị trưởngLesley Robson
 • MPsBen Bradshaw (L)
Hugo Swire (C)
 • HQCivic Centre, Paris Street
 • Quốc hội Anh QuốcExeter
East Devon
 • Nghị viện châu ÂuSouth West England
Diện tích[1]
 • Tổng cộng47.04 km2 (18.16 mi2)
Thứ hạng diện tích274 (trong số 326)
Dân số (ước tính giữa 2017)[2]
 • Tổng cộng128,900
 • Thứ hạng171 (trong số 326)
 • Mật độ2,700/km2 (7,100/mi2)
 • DemonymExonian
 • Dân tộc (2011)[3]
Múi giờGMT (UTC+0)
 • Mùa hè (DST)BST (UTC+1)
Mã bưu chínhEX1-6
Mã điện thoại01392
Thành phố kết nghĩaBad Homburg vor der Höhe, Rennes, Terracina sửa dữ liệu
Trang webexeter.gov.uk

Exeter ( /ˈɛkstər/) là một thành phố nhà thờ chính tòa ở Devon, nước Anh, với dân số 129,800 (ước tính giữa năm 2016). Thành phố nằm bên sông Exe khoảng 37 dặm (60 km) về phía đông bắc Plymouth và 70 dặm (110 km) về phía tây nam của Bristol. Đây là hạt lỵ của Devon, và trụ sở của Hội đồng hạt Devon.

Exeter là khu định cư có thành trì nằm xa ở phía tây nam nhất của La Mã ở Anh, mặc dù có bằng chứng cho thấy một bộ tộc người Anh tồn tại ở Exeter trước cuộc xâm lăng của La Mã. Exeter trở thành một trung tâm tôn giáo trong thời Trung Cổ và vào thời kỳ Tudor: Nhà thờ chính tòa Exeter, được thành lập vào giữa thế kỷ 11, trở thành nhà thờ Anh giáo trong quá trình Cải cách Anh Quốc vào thế kỷ 16. Vào cuối thế kỷ 19, Exeter đã trở thành một trung tâm giàu có cho việc buôn bán len, mặc dù trong Thế chiến I, thành phố đã bị suy giảm. Sau thế chiến thứ hai, nhiều trung tâm thành phố được xây dựng lại và hiện nay được coi là trung tâm kinh doanh và du lịch hiện đại ở Devon và Cornwall.

Khu hành chính của Exeter có địa vị của một huyện không thuộc vùng đô thị thuộc quyền quản lý của Hội đồng Hạt.

Tên gọi[sửa | sửa mã nguồn]

Tên gọi hiện đại của Exeter là một sự phát triển của từ Escanceaster trong tiếng Anh cổ,[4] một dạng Anh hóa của sông mà ngày nay mang tên Exehậu tố tiếng Anh cổ -ceaster, được sử dụng để đánh dấu các pháo đài và thành thị quan trọng. (tên tiếng Wales của thành phố, Caerwysg, cũng có nghĩa là "pháo đài trên sông Exe".) Cái tên "Exe" là một cái tên Brittonic —nghĩa là "nước"[5] hay chính xác hơn, nghĩa là "đầy ắp cá" (trong tiếng Wales, pysg, là "cá" (số nhiều))[6]—cũng xuất hiện trong tên của AxeEskAnh và sông Usk (tiếng Wales: Wysg) ở Wales.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Standard Area Measurements (2016) for Administrative Areas in the United Kingdom”. Office for National Statistics. 1 tháng 2 năm 2017. Truy cập ngày 9 tháng 2 năm 2017. 
  2. ^ “Population Estimates for UK, England and Wales, Scotland and Northern Ireland, Mid-2017”. Office for National Statistics. 28 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 28 tháng 6 năm 2018. 
  3. ^ “Ethnic Group, 2011”. Office for National Statistics. Ngày 30 tháng 1 năm 2013. Truy cập ngày 18 tháng 7 năm 2013. 
  4. ^ Eilert Ekwall (1981). The Concise Oxford Dictionary of English Place-names. Oxford University Press. tr. 171. ISBN 0-19-869103-3. 
  5. ^ Eilert Ekwall (1981). The Concise Oxford Dictionary of English Place-names. Oxford [Eng.]: OUP. tr. 171. ISBN 0-19-869103-3. 
  6. ^ Owen, H.W. & Morgan, R. 2007 Dictionary of the Place-names of Wales Gomer Press, Ceredigion; Gwasg Gomer / Gomer Press; page 484.