Faded (bài hát của Alan Walker)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Faded)
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

"Faded"

Đĩa đơn của Alan Walker
Phát hành25 tháng 11 năm 2015
Định dạng
Thu âm2015[cần dẫn nguồn]
Thể loạiEDM
Thời lượng3:33
Hãng đĩaMer Musikk
Sáng tác
Sản xuất
Thứ tự đĩa đơn của Alan Walker
"Force"
(2015)
"Faded"
(2015)
"Sing Me to Sleep"
(2016)
Video âm nhạc
"Faded" trên YouTube

"Faded" là một bài hát ballad điện tử năm 2015 bởi nhà sản xuất nhạc người Anh-Na Uy Alan Walker, phát hành vào ngày 25 tháng 11 năm 2015. Bài hát trở nên hết sức thành công, khi nằm trong top 10 ở hầu hết các bảng xếp hạng âm nhạc ở nhiều nước, và vươn tới hạng nhất ở trên 10 bảng xếp hạng.

Nhờ có Faded mà anh được góp mặt trong bảng xếp hạng DJ Mag lần đầu tiên với vị trí thứ 55, từ đó không ngừng cải thiện thứ bậc của mình trên DJ Mag nói chung, mà nhiều bảng xếp hạng khác hay Youtube.

Bối cảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Bài hát là phiên bản làm lại của bản nhạc "Fade"( hiện đang đứng đầu về lượt view với 374 triệu view trên kênh No Copyright Sounds) do Alan Walker sáng tác trước đó và được phát hành trên NoCopyrightSounds vào năm 2014. Tính đến nay, "Faded" đã giành được hơn 2 tỉ 200 triệu lượt xem trên(đạt mốc 1 tỉ vào ngày 17 tháng 3 năm 2017 và mốc 2 tỉ vào ngày 12 tháng 10 năm 2018) YouTube cùng hơn 15 triệu lượt thích, đứng thứ 5 về số lượt thích đứng thứ 21 về lượt view. Nếu chỉ tính riêng dòng nhạc EDM Faded đang có lượt view đứng thứ 2 và đứng top 1 về lượt thích [2][3] là có tỷ lệ thích cao nhất trong số 40 video có nhiều lượt thích nhất (97,38%). Tuy có cấu trúc và giai điệu gần giống với "Fade", "Faded" lại đáng chú ý hơn "Fade" bởi phần mở đầu bằng piano; sự góp giọng của Iselin Solheim cùng với sự kết hợp nhạc tốt.

Diễn biến thương mại[sửa | sửa mã nguồn]

"Faded" đã trở thành một thành công về mặt thương mại gần như ngay sau khi được ra mắt, đứng đầu các bảng xếp hạng đĩa đơn ở Thụy Điển, Na UyPhần Lan, cũng như vào đến top 3 ở bảng xếp hạng đĩa đơn ở Đan Mạch. Bài hát từng đứng đầu các bảng xếp hạng ở hơn 10 nước và nằm trong top 5 ở hơn 25 nước.

Bài hát còn được xếp hạng ở nhiều nước khác như Úc, Áo, Bỉ, Canada, Pháp, Đức, Indonesia, Ireland, Ý, Latvia, Malaysia, Hà Lan, New Zealand, Thụy Sĩ, Tây Ban Nha, Vương quốc Anh và Hoa Kì. Bài hát ngoài ra còn đứng hạng nhất ở bảng xếp hạng Shazam Top 100.

Trên YouTube, "Faded" có trên 620 triệu lượt xem tính đến tháng 9 năm 2016, và nằm trong danh sách 40 video có lượt thích nhiều nhất trên YouTube với gần 3.9 triệu lượt thích. Ngoài ra, bài hát có tỉ lệ lượt thích cao nhất, với tỉ lệ 97,38%.[1]

Nó cũng đã đạt đến danh sách 100 video YouTube được xem nhiều nhất.

Trên Spotify, "Faded" có hơn 650 triệu luồng vào tháng 5 năm 2017 và là một trong 30 bài hát trực tuyến hàng đầu .

Chính bản thân anh cũng không tin mình lại có thành công như vậy ngay cả lần đầu nghe bản piano của nó, trong một video cảm ơn trên youtube khi đạt 1 tỉ lượt xem, nhà sản xuất của anh cho thấy ông luôn ám ảnh câu "Where are you now?, Where are you now?" đó là lý do tạo nên thành công cho ca khúc này.[4]

Mặc dù khi được phỏng vấn, anh chia sẻ rằng anh phải rất cố gắng để giữ được khoảng thời gian với mọi người và hoàn thành việc học tập sau sự thành công của Faded, nhưng anh phải thừa nhận ca khúc Faded đã quá thành công và anh phải nghỉ học.[5]

Biểu diễn trực tiếp[sửa | sửa mã nguồn]

Một số nữ ca sĩ đã biểu diễn ca khúc Faded sống cùng Alan Walker. Ngoài Iselin Solheim , người cũng là ca sĩ gốc của thu âm, bài hát cũng đã được trình diễn trực tiếp với Ingrid Helene Håvik (ca sĩ Highasakite ),Tove Styrke , Alexandra Rotan, Angelina Jordan , Zara Larsson và Torine Michelle. 

Video nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Các công trình khai thác mỏ đá Derelict Rummu trong nước vào ban đêm, tháng 9 năm 2014

Một video âm nhạc đã được phát hành, có tính Shahab Salehi  làm nhân vật chính.  Đoạn video được quay ở mỏ đá Rummu ở Estonia , sản xuất và biên soạn bởi Bror Bror và do Rikkard và Tobias Häggbom điều khiển, cùng với Rikkard Häggbom cũng là giám đốc nhiếp ảnh.

Đoạn video cho thấy một thanh niên mặc bộ đồ đen theo phong cách của người da đen, bao gồm mặt nạ, lang thang với ba lô và một tấm ảnh của nhà mình trong tay.Anh lang thang qua từ bỏ lĩnh vực bao gồm các tòa nhà cao tầng bị tàn phá và các cấu trúc vô chủ, một bùng SOS được sử dụng bởi anh ấy tại một thời điểm để khám phá một tòa nhà tối. Được dẫn dắt bởi bức ảnh, cuối cùng anh ta đã định vị ngôi nhà của mình nhưng tìm thấy nó trong đống đổ nát . Với một cái nhìn cuối cùng tại nhà của mình, anh ta loại bỏ mặt nạ của mình, khi video kết thúc.. 

Vị trí quay phim[sửa | sửa mã nguồn]

Linnahall vào tháng 11 năm 2011. Các  kiến trúc sư Raine Karp và Riina Altmäe

Video này được quay ở Estonia ,  và tập trung chủ yếu vào các tòa nhà bị bỏ hoang, bị bỏ rơi, hoặc bị hư hỏng.  Hầu hết các địa điểm quay phim được xen kẽ qua video và không xuất hiện theo thứ tự liên tục.

Các vị trí đáng chú ý bao gồm tòa nhà Linnahall (được xây dựng từ đá vôi ),  nhà máy sản xuất hàng dệt và xây dựng hòa nhạc tại Põhja puiestee 7 ở Tallinn ; Nhà tù Rummu trước đây, mỏ đá vôi Rummu và hồ dọc theo đầu gãy tiếp theo ở Vasalemma Parish ; Và một số địa điểm xung quanh thành phố Paldiski .  Chụp cuối cùng có các tàn tích của một tòa nhà gần bờ biển bán đảo Pakri bên ngoài Paldiski, ở ngoại ô làng Laoküla , Keila Parish ( 59.327337 ° N 24.103941 ° E ).[6]

Danh sách ca khúc[sửa | sửa mã nguồn]

Bản tải xuống kỹ thuật số
STT Tên bài hát Thời lượng
1. "Faded"   3:32
2. "Faded (Instrumental)"   3:35
Bản tải xuống kỹ thuật số (Phiên bản Thay thế)[2]
STT Tên bài hát Thời lượng
1. "Faded (Restrung)"   3:37
Bản tải xuống kỹ thuật số – remix[3]
STT Tên bài hát Thời lượng
1. "Faded" (Tiesto's Deep House Remix) 4:29
2. "Faded" (Dash Berlin Remix) 3:35
3. "Faded" (Tungevaag & Raaban Remix) 4:11
4. "Faded" (Y&V Remix) 4:33
5. "Faded" (Tiesto's Northern Lights Remix) 4:10
6. "Faded" (Luke Christopher Remix) 3:35
Bản tải xuống kỹ thuật số – remix II[4]
STT Tên bài hát Thời lượng
1. "Faded" (Slushii Remix) 3:31
2. "Faded" (Young Bombs Remix) 3:22

Xếp hạng và chứng nhận[sửa | sửa mã nguồn]

Faded Restrung[sửa | sửa mã nguồn]

Vào ngày 11 tháng 2 năm 2016, Alan Walker phát hành phiên bản âm hưởng của "Faded", được gọi là "Faded (Restrung)". Bài hát được biểu diễn bằng một cây đàn piano và dây đàn, với tất cả các yếu tố EDM được đưa ra. Walker đã viết trong một ghi chú cho The Faded , rằng anh đã quyết định một phiên bản thay thế của "Faded", để "làm nổi bật các khía cạnh khác của bài hát, để trình bày cho khán giả khác có thể thích giọng nói của Iselin Solheim Những giai điệu, nhưng không thể chịu được phần nhạc điện tử của nó ". Điều này trái ngược với bản Instrumental nhấn mạnh phần EDM beat và tăng tốc cho phần lời của Iselin.

Video nhạc "Restrung" tham gia bởi Walker, Iselin Solheim và một nhóm 11 người biểu diễn trong khu lò phản ứng của R1 , lò phản ứng hạt nhân đầu tiên của Thụy Điển. Dàn diễn viên đang mặc thương hiệu hoodies, tức là áo trùm kín mặt của Alan Walker.  Phòng lò phản ứng R1 nằm dưới lòng đất tại Viện Công nghệ Hoàng gia Thu Sweden Điển (KTH) của Thụy Điển tại Stockholm . 

Nhóm đã tạo ra video cho "Faded" cũng đã làm video âm nhạc cho "Restrung" - Bror Bror là nhà sản xuất, Rikkard và Tobias Häggbom đạo diễn, và Shahab Salehi được xem là trợ lý. Bầu không khí quay phim gần giống với "Faded"; Theo cảnh quay đằng sau hậu trường của Alan Walker, video "Restrung" đã được quay như một sự tiếp tục của các loại đối với video gốc "Faded". [7]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Walker, Alan (3 tháng 12 năm 2015). “Faded”. YouTube. 
  2. ^ “iTunes - Music - Faded (Restrung) - Single by Alan Walker”. iTunes Store. 
  3. ^ “iTunes - Music - Faded [Remixes] - EP by Alan Walker”. iTunes Store. 
  4. ^ “iTunes - Music - Faded [Remixes II] - EP by Alan Walker”. iTunes Store. 
  5. ^ “Argentina Top 20 General” (bằng tiếng Tây Ban Nha). Monitor Latino. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 7 năm 2016. Truy cập ngày 3 tháng 7 năm 2016. 
  6. ^ "Australian-charts.com - Alan Walker - {{{song}}}". ARIA Top 50 Singles. Hung Medien. Truy cập 19 tháng 3 năm 2016.
  7. ^ "Alan Walker - Faded Austriancharts.at" (bằng tiếng Đức). Ö3 Austria Top 40. Hung Medien.
  8. ^ "Ultratop.be - Alan Walker - Faded" (bằng tiếng Hà Lan). Ultratop & Hung Medien / hitparade.ch.
  9. ^ "Ultratop.be - Alan Walker - Faded" (bằng tiếng Pháp). Ultratop & Hung Medien / hitparade.ch.
  10. ^ "Tên sai Alan Walker/Alan+Walker/chart?f=793 Alan Walker - Chart history" Canadian Hot 100 của Alan Walker. Truy cập 7 tháng 6 năm 2016.
  11. ^ “Croatian Airplay Chart”. 1 tháng 8 năm 2016. Truy cập ngày 1 tháng 8 năm 2016. 
  12. ^ "ČNS IFPI" (bằng tiếng Séc). Hitparáda – Digital Top 100 Oficiální. IFPI Czech Republic. Chú ý: nhập 201616 vào ô tìm kiếm.
  13. ^ "Danishcharts.com - Alan Walker - Faded". Tracklisten. Hung Medien.
  14. ^ "Finnishcharts.com - Alan Walker - Faded". Suomen virallinen lista. Hung Medien.
  15. ^ "Lescharts.com - Alan Walker - Faded" (bằng tiếng Pháp). Les classement single. Hung Medien. Truy cập 23 tháng 2 năm 2016.
  16. ^ [1]
  17. ^ “Guatemala Top 20 General” (bằng tiếng Tây Ban Nha). Monitor Latino. Truy cập ngày 1 tháng 8 năm 2016. 
  18. ^ "Archívum – Slágerlisták – MAHASZ" (in Hungarian). Single (track) Top 40 lista. Magyar Hanglemezkiadók Szövetsége. Retrieved 26 March 2016.
  19. ^ "Chart Track". Irish Singles Chart. GfK. Truy cập 19 tháng 3 năm 2016.
  20. ^ "{{{artist}}} – {{{song}}}". Israeli Airplay Chart. Media Forest. Truy cập 27 tháng 3 năm 2016.
  21. ^ "Italiancharts.com - Alan Walker - Faded". Top Digital Download. Hung Medien.
  22. ^ “Latvijas Top 40”. Latvijas Radio. 7 tháng 2 năm 2016. Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2016. 
  23. ^ “Alan Walker Lebanese Chart Top 20 History”. The Official Lebanese Top 20. Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2016. 
  24. ^ "Dutchcharts.nl - Alan Walker - Faded" (bằng tiếng Hà Lan). Mega Single Top 100. Hung Medien / hitparade.ch. Truy cập 25 tháng 3 năm 2016.
  25. ^ "Charts.org.nz - Alan Walker - {{{song}}}". Top 40 Singles. Hung Medien. Truy cập 25 tháng 3 năm 2016.
  26. ^ "Norwegiancharts.com - Alan Walker - Faded". VG-lista. Hung Medien.
  27. ^ "Listy bestsellerów, wyróżnienia :: Związek Producentów Audio-Video". Polish Airplay Top 20. Truy cập 4 tháng 4 năm 2016.
  28. ^ “Portugal Digital Songs”. Billboard. Truy cập ngày 11 tháng 5 năm 2016. 
  29. ^ “Romanian International Top 10 Singles Chart”. Media Forest. 2 tháng 7 năm 2016. Truy cập ngày 2 tháng 7 năm 2016. 
  30. ^ "SNS IFPI" (bằng tiếng Slovakia). Hitparáda – Singles Digital Top 100 Oficiálna. IFPI Czech Republic. Chú ý: nhập 20164 vào ô tìm kiếm.
  31. ^ "EMA Top 10 Airplay: Week Ending 2016-04-12". Entertainment Monitoring Africa. Truy cập 18 tháng 4 năm 2016.
  32. ^ "Spanishcharts.com - Alan Walker - Faded" Canciones Top 50. Hung Medien.
  33. ^ "Swedishcharts.com - Alan Walker - Faded". Singles Top 60. Hung Medien.
  34. ^ "Alan Walker - Faded swisscharts.com". Swiss Singles Chart. Hung Medien.
  35. ^ "Archive Chart: 2016-04-14" UK Singles Chart. Official Charts Company. Truy cập 8 tháng 4 năm 2016.
  36. ^ "Tên sai Alan Walker/Alan+Walker/chart?f=379 Alan Walker - Chart history" Billboard Hot 100 của Alan Walker. Truy cập 1 tháng 6 năm 2016.
  37. ^ Ryan, Gavin (25 tháng 6 năm 2016). “ARIA Singles: Drake 'One Dance' Is Still No 1”. Noise11. Truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2016. 
  38. ^ “Austrian single certifications – Alan Walker – Faded” (bằng tiếng Đức). IFPI Áo. Truy cập ngày 25 tháng 3 năm 2015.  Nhập Alan Walker vào ô Interpret (Tìm kiếm). Nhập Faded vào ô Titel (Tựa đề). Chọn single trong khung Format (Định dạng). Nhấn Suchen (Tìm)
  39. ^ “Ultratop − Goud en Platina – 2016”. Ultratop & Hung Medien / hitparade.ch. Truy cập ngày 19 tháng 3 năm 2015. 
  40. ^ “Denmark single certifications – Alan Walker – Faded”. IFPI Đan Mạch. Truy cập ngày 2 tháng 2 năm 2016. 
  41. ^ a ă “Alan Walker releases "Faded (Restrung)". Front View. 17 tháng 2 năm 2016. Truy cập ngày 26 tháng 3 năm 2016. 
  42. ^ “Finland single certifications – Alan Walker – Faded” (bằng tiếng Phần Lan). Musiikkituottajat – IFPI Finland. 
  43. ^ “Gold-/Platin-Datenbank (Alan Walker; 'Faded')” (bằng tiếng Đức). Bundesverband Musikindustrie. Truy cập ngày 10 tháng 8 năm 2016. 
  44. ^ “Italy single certifications – Alan Walker – Faded” (bằng tiếng Ý). Liên đoàn Công nghiệp âm nhạc Ý. Truy cập ngày 11 tháng 7 năm 2016.  Chọn "2017" trong bảng chọn "Anno". Nhập "Faded" vào ô "Filtra". Chọn "Singoli online" dưới phần "Sezione".
  45. ^ “New Zealand single certifications”. Recorded Music NZ. Truy cập ngày 20 tháng 5 năm 2016. 
  46. ^ “Norway single certifications – Alan Walker – Faded” (bằng tiếng Na Uy). IFPI Na Uy. Truy cập ngày 3 tháng 3 năm 2016. 
  47. ^ “Poland single certifications – Alan Walker – Faded” (bằng tiếng Ba Lan). ZPAV. Truy cập ngày 10 tháng 8 năm 2016. 
  48. ^ “Spanish single certifications – Alan Walker – Faded” (bằng tiếng Tây Ban Nha). Novedades y Listas Oficiales de Ventas de Música en España. Truy cập ngày 15 tháng 6 năm 2016. 
  49. ^ “Guld- och Platinacertifikat − År 2017” (PDF) (bằng tiếng Thụy Điển). IFPI Thụy Điển. Truy cập ngày 9 tháng 9 năm 2016.  Nhập Alan Walker vào ô tìm kiếm ở trên cùng. Nhấn vào "Sok" và chọn Faded
  50. ^ “Britain single certifications – Alan Walker – Faded” (bằng tiếng Anh). British Phonographic Industry. Truy cập ngày 8 tháng 7 năm 2016.  Chọn singles trong bảng chọn Format. Chọn ' trong nhóm lệnh Certification. Nhập Faded vào khung "Search BPI Awards" rồi nhấn Enter
  51. ^ “American single certifications – Alan Walker – Faded” (bằng tiếng Anh). Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Hoa Kỳ.  Nếu cần, nhấn Advanced Search, dưới mục Format chọn Single rồi nhấn Search

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]