Ngô đồng

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Firmiana simplex)
Bước tới: menu, tìm kiếm
Firmiana simplex
Firmiana simplex3.jpg
Phân loại khoa học
Giới (regnum) Plantae
(không phân hạng) Angiospermae
(không phân hạng) Eudicots
(không phân hạng) Rosids
Bộ (ordo) Malvales
Họ (familia) Malvaceae
Chi (genus) Firmiana
Loài (species) F. simplex
Danh pháp hai phần
Firmiana simplex
(L.) W.Wight, 1909
Danh pháp đồng nghĩa[1]
  • Caucanthus platanifolia (L.) Raf.
  • Clompanus pyriformis Kuntze
  • Clompanus simplex (L.) Kuntze
  • Culhamia hadiensis J.F.Gmel.
  • Culhamia platanifolia Steud.
  • Culhamia simplex (L.) Nakai
  • Culhamia triloba Raf.
  • Firmiana chinensis Medik. ex Steud.
  • Firmiana platanifolia (L.f.) Marsili
  • Firmiana platanifolia (L. f.) Schott & Endl.
  • Firmiana platanifolia var. tomentosa (Thunb.) Sa.Kurata
  • Hibiscus simplex L.
  • Sterculia platanifolia L.f.
  • Sterculia simplex (L.) Druce
  • Sterculia urens Roxb.

Ngô đồng[2][3] hay còn gọi tơ đồng,[3] trôm đơn,[3] bo rừng, bo xanh (danh pháp khoa học: Firmiana simplex) là một loài thực vật có hoa trong họ Cẩm quỳ. Loài này được Carl Linnaeus mô tả khoa học đầu tiên năm 1763 dưới danh pháp Hibiscus simplex. Năm 1909 William Franklin Wight chuyển nó sang chi Firmiana.[1]

Mô tả[sửa | sửa mã nguồn]

Cây gỗ nhỏ lâu năm, cao đến 16m, đường kính thân cây có thể đến 30cm. Vỏ thân cây nhẵn có màu xanh lá cây. Lá đơn mọc cách, phiến lá xẻ thùy chân vịt nông 3-5 thùy. Kích thước lá dài 15-30cm.[4] Hoa đơn tính cùng gốc, tràng hoa màu trắng hoặc vàng, mùa hoa vào tháng 7. Quả dạng kiên, hình trái xoan.

Ngô đồng nguyên xuất miền nam Trung Quốc tới bắc Việt Nam, được trồng rộng rãi ở châu Âu, Bắc Mỹ và Đông Á. Cây ưa đất ẩm, thành phần cơ giới của đất từ sét đến pha cát, đất chua, trung tính đến kiềm. Ánh sáng từ toàn phần đến bị che bóng một phần.

Sử dụng[sửa | sửa mã nguồn]

Ngô đồng có dáng thân thẳng, tán cây dạng trứng phù hợp trồng làm cây bóng mát ở ven đường, gần bãi đỗ xe.[5] Vỏ cây cho sợi. Gỗ ngô đồng có tính truyền âm tốt, được dùng để chế tạo một số loại nhạc cụ truyền thống phương đông như thất huyền cầm hay đàn tranh. Ngoài ra gỗ Ngô đồng còn được dùng đóng một số đố gia dụng nhỏ khác.

Lá cây được dùng với liều lượng nhỏ trong y học chữa bệnh trĩ, loét. Lá cây phơi khô còn được cuộn lại sử dụng hút thay thể cho thuốc lá.[6] Hạt sử dụng trong điều chế thuốc kháng histamine, hạt cho dầu và có thể ăn được nếu biết cách chế biến.[7]

Văn hóa[sửa | sửa mã nguồn]

Theo truyền thuyết Á Đông thì chim phượng hoàng khi xuất hiện chỉ đậu trên cây ngô đồng.[8]

Thành ngữ chữ Hán cũng nhắc đến cây ngô đồng:

梧桐一葉落, Ngô đồng nhất diệp lạc

天下共知秋, Thiên hạ cộng tri thu

Nghĩa là: một chiếc lá cây vông rụng là mọi người biết mùa thu đã tới.[9]

Ngô đồng Huế[10][sửa | sửa mã nguồn]

Do xuất phát từ huyền thoại là cây vương giả, nên cây ngô đồng xưa kia chỉ được trồng ở những nơi quyền quý thiêng liêng, đó là trong Hoàng thành và ở các lăng vua nhà Nguyễn. Theo Đại Nam Nhất Thống Chí, khi có được hai cây ngô đồng mang từ Quảng Đông (Trung Quốc) về, vua Minh Mạng cho trồng ở hai góc của điện Cần Chánh trong Đại nội. Sau đó nhà vua lại sức cho Bộ Công chọn người thông hiểu cây cỏ mang theo lá cây làm mẫu lên vùng núi Trường Sơn tìm cây mang về trồng thêm ở các góc điện, vì lẽ ở Việt Nam các vùng ven núi đều có bóng dáng cây ngô đồng. Không những thế, khi cho đúc cửu đỉnh để “tỏ ra ngôi vị đã đúng, danh mệnh đã tụ lại”... nhằm tượng trưng cho đế nghiệp bền vững của nhà Nguyễn, vua Minh Mạng đã cho chạm khắc trên chiếc đỉnh mang thụy hiệu của mình, tức là Nhân đỉnh các họa tiết thể hiện cây ngô đồng. Theo các nhà nghiên cứu thì họa tiết đó chính là hình ảnh cây ngô đồng được trồng ở góc điện Cần Chánh vào lúc cây ngô đồng cỏn trẻ, lá cây còn ở dạng 5 thùy. Cũng vì lẽ đó, dường như không có một thành phố nào ở Việt Nam lại có nhiều cây ngô đồng được trồng hơn là ở xứ Huế; và cũng không nơi nào ở nước ta, người dân quan tâm đến cây ngô đồng hơn là người dân ở vùng đất Cố đô. Đã có nhiều bài viết nói tới cây ngô đồng, hoặc nghiên cứu về cây ngô đồng, nhưng phần lớn đều của tác giả người Huế.

Các nhà nghiên cứu về thực vật học cho biết núi rừng Việt Nam có nhiều loại cây thuộc họ Trôm (tên khoa học là Sterculiaceae) vốn mang hình thái gần giống với cây ngô đồng ở Huế khiến nhiều ngưới nhầm lẫn. Giống cây ngô đồng hiện có mặt tại Huế được nhiều người thống nhất rằng chúng thuộc họ Firmiana simplex, nghĩa là cây ngô đống Trung Quốc được người Tây phương gọi là Chinese Parasol Tree. Parasot là cái lọng hay cái dù, có tác dụng che ánh mặt trời lấy bóng mát, mặc dù thực ra cây ngô đồng không có tác dụng ấy. Trong bài viết đăng trên tạp chí Nghiên cứu Huế do Trung tâm Nghiên cứu Huế xuất bản tháng 12 năm 2003, tác giả Đỗ Xuân Cẩm cho biết giống cây ngô đồng ở Huế có hai kiểu lá: vào thời gian đầu của thời kỳ sinh trưởng thì lá trên cây hầu hết đều ở dạng 5 thùy; đến khi cây trưởng thành thì lá chỉ còn 3 thùy hoặc không phân thùy. Trong khi có tác giả nghĩ rằng họa tiết thể hiện cây ngô đồng trên thành Nhân đỉnh được mô phỏng theo hình vẽ các sách thực vật học Trung Quốc thì tác giả Đỗ Xuân Cẩm lại xác nhận rằng đó là nghệ nhân căn cứ vào thực tế cây ngô đồng trồng ở điện Cần Chánh, lúc ấy cây còn non. Phân tích sâu hơn, Đỗ Xuân Cẩm cho biết ngô đồng có hai loại, một loại mọc tự nhiên ở rừng Việt Nam thuộc chi Firmiana simplex phân bố tự nhiên từ Nghệ An trớ ra đến các tỉnh miền nam Trung Quốc, một loại khác là Firmiana colorata Roxb được gọi là ngô đồng đỏ; cả hai chi ngô đống này đều ra hoa vào khoảng tháng 7 âm lịch và trước khi ra hoa, toàn bộ lá ngô đồng lần lượt rụng hết, vì thế người ta mới bảo khi lá ngô đồng rụng thì mọi người đều biết mùa thu đang tới. Các tài liệu đều thống nhất rằng, cả hai chi này hoa ngô đồng thường tập hợp thành chùm đầy lông có màu trắng hay màu váng.

Trong khi đó, chùm hoa ngô đồng ở Huế đài hoa có lông phủ màu tím nên khi hoa nở rộ vào khoảng trung tuần tháng 2 đến trung tuần tháng 3 âm lịch, cả cây ngô đồng được bao phủ bởi một mảng màu hồng tím rất đẹp. Tác giả Đỗ Xuân Cẩm cho rằng cây ngô đồng ở Huế là một biến thể của chi Firmiana simplex và đề nghị hãy gọi chúng là “ngô đồng Huế”. Nhìn chung nhiều tác giả nghiên cứu đều chỉ ra rằng những loại cây tương tự như cây vông đồng, cây vông nem, cây vông vang, cây độc bình, cây mã đậu (mà có nơi còn gọi là bã đậu) … đều không phải là cây ngô đồng hiện chúng ta đang nói đến, mặc dù nhiều nơi vẫn còn nhầm lẫn về tên gọi.

Từ những cây ngô đồng đầu tiên đến ngụ cư ở góc điện Cần Chánh trong Đại nội Huế, đã có nhiều cây ngô đồng được nhân ra, được trồng mới ở nhiều lăng tẩm, đền đài. Dưới thời Pháp thuộc, có một cây ngô đồng được trồng ngay lối vào công viên Tứ Tượng trước khách sạn Saigon Morin trên đường Lê Lợi nhưng đã bị cơn lốc năm 1985 quật ngã. Ngày nay cũng ở công viên Tứ Tượng , đã có thêm hai cây ngô đồng, một cây vươn cao vượt hẳn những loài cây chung quanh được trồng sát trụ sở Ủy ban Nhân dân thành phố Huế, một cây nữa nhỏ hơn mới được trống lại ngay cổng vào công viên. Tại công viên Thương Bạc, về phía cầu Tràng Tiền có cả một cụm ngô đồng, các cây mới trồng đến nay cũng đã hơn chục năm và đã lần lượt trổ hoa. Đã có những nghiên cứu và đề nghị việc trồng thêm cây ngô đồng trong thành phố Huế.

Hình ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă The Plant List (2010). Firmiana simplex. Truy cập ngày 4 tháng 6 năm 2013. 
  2. ^ Nguyễn Tiến Bân, Nguyễn Quốc Bình, Vũ Văn Cẩn, Lê Mộng Chân, Nguyễn Ngọc Chính, Vũ Văn Dũng, Nguyễn Văn Dư, Trần Đình Đại, Nguyễn Kim Đào, Nguyễn Thị Đỏ, Nguyễn Hữu Hiến, Nguyễn Đình Hưng, Dương Đức Huyến, Nguyễn Đăng Khôi, Nguyễn Khắc Khôi, Trần Kim Liên, Vũ Xuân Phương, Hoàng Thị Sản, Nguyễn Văn Tập, Nguyễn Nghĩa Thìn; Tên cây rừng Việt Nam; Nhà xuất bản Nông nghiệp - 2000; Trang 107.
  3. ^ a ă â Phạm Hoàng Hộ. Cây cỏ Việt Nam. Quyển 1. Nhà xuất bản Trẻ. 1999. Trang 510. Mục từ 2047.
  4. ^ Flora of China: Firmiana simplex
  5. ^ Fact Sheet ST-259, a series of the Environmental Horticulture Department, Florida Cooperative Extension Service, Institute of Food and Agricultural Sciences, University of Florida. Publication date: November 1993.
  6. ^ Anon, Nature, August 7, 1884, pp 337-338
  7. ^ Plant for a future: Firmiana simplex
  8. ^ Nguyễn Ngọc Phách. Chữ Nho & Đời Sống Mới. Arlington, VA: Tổ hợp Xuất bản Miền Đông Hoa Kỳ, 2004. Tr 323.
  9. ^ Nguyễn Ngọc Phách. Chữ Nho & Đời Sống Mới. Arlington, VA: Tổ hợp Xuất bản Miền Đông Hoa Kỳ, 2004. Tr 287.
  10. ^ “Ngo đồng Huế”. 
  11. ^ http://vov.vn/media/anh/ngo-dong-loai-hoa-cua-cung-dinh-hue-325321.vov.  |tựa đề= trống hay bị thiếu (trợ giúp)

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]