Geoffrey V, Bá tước xứ Anjou

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Geoffrey Plantagenet
Công tước của người Norman
Bá tước xứ Anjou, Maine và Mortain
Geoffrey of Anjou Monument.jpg
Hình nộm bằng men của Geoffrey Plantagenet từ lăng mộ của ông tại Le Mans. Chiếc khiên được trang trí của ông lấy thiết kế từ nguồn gốc ban đầu của ba con sư tử của Phù hiệu hoàng gia Anh.
Bá tước Anjou
Tại vị1129 – 7 tháng 9 năm 1151
Tiền nhiệmFulk của Jerusalem
Kế nhiệmHenry Curtmantle
Công tước xứ Normandy
Tại vị1144 – 1150
Tiền nhiệmStephen
Kế nhiệmHenry Curtmantle
Thông tin chung
Sinh24 tháng 8 năm 1113
Mất7 tháng 9 năm 1151(1151-09-07) (38 tuổi)
Château-du-Loir, Pháp
An tángNhà thờ Le Mans, Le Mans
Phối ngẫu
Hoàng hậu Matilda (cưới 1128)
Hậu duệ
Hoàng tộcNhà Plantagenet (người sáng lập)
Thân phụFulk của Jerusalem
Thân mẫuErmengarde, Bá tước xứ Maine

Geoffrey V (24 tháng 8 1113 - 7 tháng 9, 1151), còn được gọi với biệt danh là Người Đẹp trai (tiếng Pháp: le Bel) hoặc là Geoffrey Plantagenet, là bá tước của xứ Anjou, TouraineMaine khi được thừa kế từ cha ông năm 1129, và cũng là công tước của Normandie sau cuộc chinh phục từ năm 1144. Cuộc hôn nhân của ông với Hoàng hậu Matilda, con gái của Vua Henry I của Anh, đã dẫn đến sự mở đầu triều đại Plantagenet trị vì ở Anh kéo dài gần 4 thế kỷ. Cái tên "Plantagenet" được lấy từ biểu tượng của Geoffrey. Vùng đất tổ tiên của Geoffrey ở Anjou đã tạo ra tên Angevin, và được gọi là Đế chế Angevin vào thế kỷ 12.

Cuộc sống ban đầu[sửa | sửa mã nguồn]

Geoffrey là con trai lớn của Fulk V xứ AnjouErmengarde xứ Maine. Geoffrey nhận biệt danh của mình từ cành hoa chổi màu vàng (genêt là tên tiếng Pháp của cây genista, hay cây bụi chổi) mà ông hay đội trong mũ.[1]:9[2]:1[3] Nhà biên niên sử John xứ Marmoutier mô tả Geoffrey là một người đẹp trai, tóc đỏ, vui tính và là một chiến binh vĩ đại.[4] Vua Henry I của Anh, sau khi nghe báo cáo về tài năng và sức mạnh của Geoffrey, đã cử quân đến Anjou để thương lượng về cuộc hôn nhân giữa cô con gái 25 tuổi Matilda và cậu thiếu niên Geoffrey 15 tuổi. Sau sự đồng ý của cả hai bên, vào ngày 10 tháng 6 năm 1128, Geoffrey được vua Henry phong tước hiệp sĩ ở Rouen, để chuẩn bị cho lễ cưới.

Cuộc hôn nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Cuộc hôn nhân của Geoffrey và Matilda diễn ra vào năm 1128. Cuộc hôn nhân này nhằm đóng dấu một nền hòa bình lâu dài giữa Anh, xứ Normandie (thuộc sở hữu của Anh từ thời William I) và xứ Anjou. Matilda hơn Geoffrey mười một tuổi, và rất tự hào về địa vị hoàng hậu của mình (trái ngược với việc chỉ là một nữ bá tước), là điều mà bà giữ cho đến cuối đời. Cuộc hôn nhân của họ là một cuộc hôn nhân đầy sóng gió nhưng hạnh phúc với những cuộc chia ly kéo dài thường xuyên. Họ có ba con trai.[1]:14–18

Bá tước xứ Anjou[sửa | sửa mã nguồn]

Một năm sau cuộc hôn nhân, cha của Geoffrey rời đến Jerusalem (nơi sau này ông trở thành vua), để lại Geoffrey với tư cách là bá tước xứ Anjou.

Khi cha vợ của ông, Vua Henry I của Anh qua đời vào năm 1135, Geoffrey đã hỗ trợ Matilda vào Normandie để đòi quyền thừa kế. Các quận biên giới đã phục tùng bà, nhưng nước Anh đã chọn người anh em họ đầu tiên của bà là Stephen xứ Blois cho ngôi vua của mình, và Normandie nhanh chóng làm theo. Năm sau, Geoffrey trao Ambrieres, Gorron, và Chatilon-sur-Colmont cho Juhel xứ Mayenne, với điều kiện ông ta phải giúp giành được quyền thừa kế của vợ Geoffrey.[5]

Năm 1139, Matilda đổ bộ vào Anh với 140 hiệp sĩ, nơi bà bị bao vây tại Lâu đài Arundel bởi Vua Stephen. Trong Chế độ vô chính phủ xảy ra sau đó, Stephen bị bắt tại Lincoln vào tháng 2 năm 1141, và bị giam tại Bristol.[6] Một hội đồng gồm các giáo sĩ nhà thờ Anh được tổ chức tại Winchester vào tháng 4 năm 1141 đã tuyên bố phế truất Stephen và tuyên bố Matilda là "Nữ chúa của người Anh".[6] Trong suốt năm 1142 và 1143, Geoffrey giành lãnh thổ toàn bộ Normandie phía tây và nam sông Seine, và vào ngày 14 tháng 1 năm 1144, ông vượt sông Seine và tiến vào Rouen. Ông đảm nhận danh hiệu Công tước xứ Normandie vào mùa hè năm 1144. Năm 1144, ông thành lập một cơ sở giáo dục Augustinô tại Château-l'Hermitage ở Anjou.[7] Geoffrey nắm giữ công quốc cho đến năm 1149, khi ông và Matilda đồng loạt nhượng cho con trai của họ, Henry, việc nhượng quyền đã được chính thức phê chuẩn bởi Vua Louis VII của Pháp vào năm sau.[8]

Geoffrey cũng đã dập tắt ba cuộc nổi dậy của nam tước ở Anjou, vào các năm 1129, 1135 và 1145–1151.[9] Ông thường xuyên mâu thuẫn với em trai của mình, Elias, người mà ông đã giam giữ cho đến khi Elias qua đời vào năm 1151. Mối đe dọa của cuộc nổi loạn đã làm chậm bước tiến của ông ở Normandie, và là một lý do khiến ông không bao giờ có thể can thiệp vào nước Anh. Geoffrey qua đời sau đó cùng năm, ở tuổi 38, và Henry thay thế cha mình làm người đứng đầu hoàng tộc Plantagenet. Năm 1153, Hiệp ước Wallingford quy định rằng Stephen phải là Vua của Anh hết đời và Henry, con trai của Geoffrey và Matilda sẽ kế vị ông, bắt đầu kỷ nguyên hoàng tộc Plantagenet trong lịch sử nước Anh.[10]

Qua đời[sửa | sửa mã nguồn]

Tây Bắc nước Pháp năm 1150

Geoffrey đột ngột qua đời vào ngày 7 tháng 9 năm 1151. Theo John xứ Marmoutier, Geoffrey đang trở về từ một hội đồng hoàng gia khi ông bị sốt. Ông đến Château-du-Loir, và gục trên một chiếc ghế dài, truyền lại các món quà từ thiện, rồi sau đó qua đời. Ông để lại người vợ và các con trai. Ông được chôn cất tại Nhà thờ Thánh JulienLe Mans, Pháp, và con trai ông là Henry kế vị ông làm Công tước xứ Normandie.[10]

Hậu duệ[sửa | sửa mã nguồn]

Geoffrey và Matilda có 3 hậu duệ:

  1. Henry II của Anh (1133–1189)
  2. Geoffrey, Bá tước xứ Nantes (1134–1158)
  3. William, Tử tước xứ Dieppe (1136–1164)

Geoffrey cũng có những đứa con ngoài giá thú với một tình nhân (hoặc nhiều tình nhân) không rõ danh tính:

  • Hamelin, người đã kết hôn với Isabel de Warenne, Nữ bá tước thứ 4 của Surrey
  • Emme, người đã kết hôn với Dafydd Ab Owain Gwynedd, Hoàng tử của Bắc Wales.
  • Mary, người đã trở thành một nữ tu tại Tu viện Shaftesbury và người có thể là nhà thơ Marie của Pháp.

Phù hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Một hình nộm tráng men (tấm bảng danh dự) do người vợ góa của ông ủy quyền để trang trí lăng mộ của Geoffrey xứ Anjou là một trong những ví dụ sớm nhất về phù hiệu châu Âu. Jean de Marmentier, một nhà biên niên sử cuối thế kỷ 12, báo cáo rằng vào năm 1128, Henry I của Anh đã phong tước hiệp sĩ cho con rể Geoffrey và phong cho ông một huy hiệu sư tử vàng.[11] Một con sư tử vàng có thể đã là phù hiệu riêng của Henry, và các họa tiết sư tử khác nhau sau này được nhiều con cháu của ông sử dụng. Lớp men vẽ Geoffrey với một chiếc khiên màu xanh dương mô tả những con sư tử vàng, có vẻ như họa tiết tương tự sau này được sử dụng bởi cháu trai của Geoffrey, William Longespee.[12] Ngoài việc là một trong những đại diện được xác thực đầu tiên của quốc huy,[13] theo nhà sử học người Anh Jim Bradbury, nó "gợi ý bằng chứng rõ ràng cho việc sớm sử dụng những thứ đã trở thành phù hiệu áo giáp của hoàng gia Anh".[14]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a b Costain, Thomas B (1962). The Conquering Family. New York: Popular Library.
  2. ^ Jones, Dan (2013). The Plantagenets: The Warrior Kings and Queens Who Made England. Viking. ISBN 9780670026654.
  3. ^ J. Bernard Burke The Heraldic Register, tr. 65, tại Google Books
  4. ^ Norgate, Kate (1887). England Under the Angevin Kings. General Books LLC. tr. 261–262. ISBN 978-1421259840.
  5. ^ Bradbury, Jim. 1990. "Geoffrey V of Anjou, Count and Knight", in The Ideals and Practice of Medieval Knighthood III, ed. Christopher Harper-Bill and Ruth Harvey. Rochester: Boydell Press.
  6. ^ a b King, Edmund (2008). King Stephen's Reign. London: Woodbridge. tr. 58–79.
  7. ^ Dutton, Kathryn (2014). The Haskins Society Journal. London: Boydell. tr. 125–154.
  8. ^ Warren, W.L. (1977). Henry II. Berkeley: University of California Press. tr. 38. ISBN 978-0520034945.
  9. ^ Halphen, L (ed.); Poupardin, R (ed.); Marmoutier, John of (1913). Chroniques des comtes. Paris.Quản lý CS1: văn bản dư: danh sách tác giả (liên kết)
  10. ^ a b Haskins, Charles H. 1912. "Normandy Under Geoffrey Plantagenet", The English Historical Review, volume 27 (July): 417–444.
  11. ^ Woodcock, Thomas and John Martin Robinson (1988), The Oxford Guide to Heraldry, Oxford University Press, pg 10.
  12. ^ Ailes, Adrian (1982). The Origins of The Royal Arms of England. Reading: Graduate Center for Medieval Studies, University of Reading. tr. 52–53.
  13. ^ Gage, John (1999), Color and Culture: Practice and Meaning from Antiquity to Abstraction, pg ??.
  14. ^ Bradbury, Jim (2004), The Routledge Companion to Medieval Warfare, p. 273

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]