Giao thông công cộng

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Giao thông công cộng là hệ thống giao thông trong đó người tham gia giao thông không sử dụng các phương tiện giao thông thuộc sở hữu cá nhân. Các dạng giao thông công cộng thường gặp bao gồm:

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Giao thông công cộng xuất hiện rất sớm. Hình thức giao thông công cộng đầu tiên là giao thông đường thủy. Người ta sử dụng phà để giúp chuyên chở người, động vật và hàng hóa. Sau đó dần dần xuất hiện các hình thức giao thông công cộng khác như xe ngựa trở khách, chuyên chở hành khách theo một hành trình cố định từ quán trọ này đến quán trọ khác, và xe buýt hai tầng, xuất hiện lần đầu ở Nantes, Pháp vào năm 1826, giúp chuyên chở người trong thành phố.

Hệ thống vé[sửa | sửa mã nguồn]

Đầu tư vào giao thông công cộng[sửa | sửa mã nguồn]

Lợi ích từ việc đầu tư[sửa | sửa mã nguồn]

  • Một số chính phủ tin rằng việc sử dụng tiền thuế để gây quỹ cho giao thông công cộng sẽ có lợi cho người dân. Nếu tiền thuế được đưa vào quỹ giao thông công cộng, giao thông công cộng sẽ phát triển, từ đó sẽ giảm thiểu ách tắc giao thôngô nhiễm môi trường. Chính phủ cũng không phải mở rộng cơ sở hạ tầng để điều tiết giao thông, một việc làm rất tốn kém, đòi hòi thuế cao. Nhờ vậy, người dân sẽ không phải trả nhiều tiền thuế. Điều này có lợi cho người dân.
  • Một lý do khác cho phát triển giao thông công cộng là để trợ giúp cho những người không có khả năng điều khiển các phương tiện giao thông thông thường, những người chưa đủ độ tuổi cho phép để điều khiển phương tiện giao thông, hoặc là những người không thể chi trả cho các loại hình giao thông đắt đỏ hơn.

Chính phủ và các tổ chức phi chính phủ[sửa | sửa mã nguồn]

Giao thông công cộng phần lớn dựa vào tiền trợ cấp của chính phủ. Chính phủ phải bù lỗ cho tiền vé thu được. Ở một số nước, hệ thống giao thông công cộng có thể được quản lý bởi một số tổ chức phi chính phủ. Ở một số nước khác, chính phủ chi trả toàn bộ phí giao thông công cộng.

Các tổ chức phi chính phủ có thể kiểm được lợi nhuận từ phí đỗ xe, từ việc cho thuê chỗ buôn bán, quảng cáo, và gần đây là nhờ việc cho các công ty truyền thông lắp đặt cáp nổi trong đường hầm. Ở một số nước, các tổ chức phi chính phủ hoạt động trên lĩnh vực này còn có được nhiều lợi ích hơn so với những công ty thông thường: - Chính phủ chi trả cho những dịch vụ không mang lại lợi nhuận - Chính phủ bảo lãnh nếu công ty có xu hướng phá sản (nhất là đối với các hãng vận tải hàng không) - Hưởng chính sách ưu đãi về thuế. VD: nhiên liệu máy bay thường được miễn thuế. - Tỉ lệ cạnh tranh thấp - Được sử dụng cơ sở hạ tầng sẵn có của chính phủ mà không phải chi trả hoặc là mua lại với giá rẻ. (đặc biệt là ngành đường sắt)

Giao thông công cộng ở một số nước[sửa | sửa mã nguồn]

Tại Hồng Kông, tập đoàn MTRtập đoàn KCR được quyền sở hữu đất xung quanh các trạm dừng, các kho chứa hàng và đường hầm. Những lợi nhuận có được từ bất động sản đã giúp các tập đoàn chi trả cho việc xây dựng hệ thống đường sắt. Tuy nhiên nó không trợ giúp được nhiều trong việc đưa hệ thống đường sắt vào hoạt động. Những lợi ích được áp dụng tương tự đối với các bến phà của các tổ chức phi chính phủ. Các công ty xe buýt được miễn thuế khi mua Điêzen

Tại Hoa Kỳ, sự vận hành những hoạt động giao thông công cộng được trợ cấp tài chính bởi chính phủ địa phương và chính phủ của bang. Hoa Kỳ có một tổ chức liên bang chuyên trợ cấp tài chính cho các hoạt động giao thông công cộng mang tên FTA (Federal Transit Administration)

Những ảnh hưởng của giao thông công cộng[sửa | sửa mã nguồn]

Có thể nói giao thông công cộng gây ra rất nhiều ảnh hưởng xấu tới môi trường. Ở Việt Nam, xe buýt thải ra nhiều khí độc.Hoa Kỳ, khí thải từ những phương tiện giao thông công cộng chiếm tới 50% tổng lượng khí thải của cả nước.

  • Ảnh hưởng tới đời sống

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]