Giorgio Napolitano

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Giorgio Napolitano
Presidente Napolitano.jpg
Tổng thống thứ 11 của Ý
Nhiệm kỳ
15 tháng 5 năm 2006 – 14 tháng 1 năm 2015
&0000000000000008.0000008 năm, &0000000000000244.000000244 ngày
Thủ tướngRomano Prodi
Silvio Berlusconi
Mario Monti
Enrico Letta
Matteo Renzi
Tiền nhiệmCarlo Azeglio Ciampi
Kế nhiệmSergio Mattarella
Bộ trưởng Nội vụ Ý
Nhiệm kỳ
17 tháng 5 năm 1996 – 21 tháng 10 năm 1998
&0000000000000002.0000002 năm, &0000000000000157.000000157 ngày
Thủ tướngRomano Prodi
Tiền nhiệmGiovanni Rinaldo Coronas
Kế nhiệmRosa Russo Iervolino
Bộ trưởng Hợp tác Bảo vệ Dân sự Ý
Nhiệm kỳ
17 tháng 5 năm 1996 – 21 tháng 10 năm 1998
&0000000000000002.0000002 năm, &0000000000000157.000000157 ngày
Thủ tướngRomano Prodi
Tiền nhiệmNicola Mancino
Kế nhiệmRosa Russo Iervolino
Chủ tịch Hạ viện Ý
Nhiệm kỳ
3 tháng 6 năm 1992 – 14 tháng 4 năm 1994
&0000000000000001.0000001 năm, &0000000000000315.000000315 ngày
Tiền nhiệmOscar Luigi Scalfaro
Kế nhiệmIrene Pivetti
Hạ nghị sĩ Ý
Nhiệm kỳ
25 tháng 6 năm 1953 – 8 tháng 5 năm 1996
&0000000000000042.00000042 năm, &0000000000000318.000000318 ngày
Thông tin cá nhân
Sinh29 tháng 6 năm 1925 (91 tuổi)
Naples, Vương quốc Ý
Đảng chính trịPCI (1945–1991)
PDS (1991–1998)
DS (1998–2006)
Vợ, chồngClio Maria Bittoni
Con cáiGiulio
Giovanni
Alma materĐại học Napoli Federico II
Tôn giáoKhông có[1]
Chữ ký

Giorgio Napolitano (sinh ngày 29 tháng 6 năm 1925 tại Napoli), là nhà chính trị và là thượng nghị sĩ của Ý. Ông được bầu làm tổng thống thứ mười một của Cộng hòa Ý từ ngày 10 tháng 5 năm 2006 đến ngày 14 tháng 1 năm 2015. Ở tuổi 90, ông Napolitano là một trong số các nguyên thủ quốc gia cao tuổi nhất thế giới.[2]

Ông là đảng viên Đảng Cộng sản Ý từ năm 1945 đến năm 1991 nhưng sau này chuyển sang Đảng Dân chủ cánh tả, ông đã là Chủ tịch Hạ viện Ý từ 1992-1994 và Bộ trưởng Nội vụ từ 1996-1998.

Năm 1942, ông trúng tuyển tại trường Đại học Napoli Federico II. Ông đã gia nhập Tổ chức phát xít đại học địa phương ("Gioventù Universitaria Fascista"), nơi ông gặp nhóm bạn bè nòng cốt của mình, là những thành viên của chủ nghĩa phát xít. Sau này, ông khẳng định rằng, nhóm sinh viên đó thực ra là mảnh đất ươm trồng thực sự cho năng lượng tri thức chống phát xít.

Đắc cử tổng thống Ý[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 2005, ông được bổ nhiệm là Nghị sĩ suốt đời, và ngày 6 tháng 10 năm 2006 ông được bầu làm Tổng thống Ý.

Ngày 20 tháng 4 năm 2013, ông đã tái đắc cử Tổng thống Ý nhiệm kỳ thứ hai. Với sự ủng hộ của tất cả các chính đảng lớn, trừ Phong trào Năm sao, ông Napolitano đã dễ dàng nhận được hơn 50% số phiếu bầu cần thiết (504 phiếu) trong tổng số 1.007 phiếu để giành chiến thắng trong phiên bỏ phiếu tại cuộc họp lưỡng viện đặc biệt của quốc hội.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Ricci, Paolo (15 tháng 10 năm 2012). “Il Presidente e il cardinale”. cittanuova.it (bằng tiếng Ý). Truy cập ngày 19 tháng 11 năm 2016. Un credente e un non credente che si sono invertiti i ruoli, ognuno cercando le ragioni dell'altro. [A believer and a nonbeliever who inverted their roles, each one trying to find the other's reason] 
  2. ^ Ông Napolitano lại tái đắc cử tổng thống Italia

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]