Họ Cá sơn

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Họ Cá sơn
Apogon niger in aquarium.JPG
Phân loại khoa học
Giới (regnum)Animalia
Ngành (phylum)Chordata
Lớp (class)Actinopterygii
Phân lớp (subclass)Neopterygii
Phân thứ lớp (infraclass)Teleostei
Nhánh Osteoglossocephalai
Nhánh Clupeocephala
Nhánh Euteleosteomorpha
Nhánh Neoteleostei
Nhánh Eurypterygia
Nhánh Ctenosquamata
Nhánh Acanthomorphata
Nhánh Euacanthomorphacea
Nhánh Percomorphaceae
Nhánh Gobiaria
Bộ (ordo)Kurtiformes
Phân bộ (subordo)Apogonoidei
Họ (familia)Apogonidae
Günther, 1859
Các phân họ và chi
Xem bài.

Họ Cá sơn (danh pháp khoa học: Apogonidae) là một họ nhà cá phân bố ở các vùng biển thuộc Đại Tây Dương, Ấn Độ DươngThái Bình Dương. Họ này chủ yếu là cá biển, nhưng một vài loài là cá nước lợ hay cá nước ngọt (chi Glossamia). Một số loài được nuôi trong bể cá cảnh và là cá nhỏ, đầy màu sắc và hiền lành. Họ này bao gồm khoảng 355 loài trong 41 chi.[1]

Họ này nói chung là các loài cá nhỏ, với phần lớn các loài ngắn hơn 10 cm (3,9 in), và thường có màu sắc sặc sỡ. Chúng được phân biệt bằng các miệng lớn (so với kích thước cơ thể), và sự phân chia vây lưng thành 2 vây tách biệt. Phần lớn các loài sinh sống trong các vùng nước nhiệt đới hay cận nhiệt đới, nơi chúng sinh sống trong các rạn san hô và các đầm phá.[2]

Chúng là cá hoạt động ban đêm, với thời gian ban ngày ẩn nấp trong các kẽ nứt tối tăm trong các ran san hô. Có một số loài ấp trứng trong miệng của cá bố.[2]

Phân loại[sửa | sửa mã nguồn]

Họ này theo truyền thống xếp trong bộ Perciformes,[1] tuy nhiên gần đây người ta đã xem xét lại phát sinh chủng loài của và đề xuất tách họ này sang bộ Kurtiformes Günther, 1861.[3]

Các chi[sửa | sửa mã nguồn]

Phân loại thành 2 hoặc 3 phân họ. Chi tiết như sau:[1][4]

Ấn bản lần thứ 5 của Fishes of the World chỉ công nhận 2 phân họ của Apogonidae là Apogoninae (gộp cả Amioidinae) và Pseudaminae.[7]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â Chủ biên Ranier Froese và Daniel Pauly. (2019). "Apogonidae" trên FishBase. Phiên bản tháng 4 năm 2019.
  2. ^ a ă Johnson G. D.; Gill A. C. (1998). Paxton J. R.; Eschmeyer W. N., biên tập. Encyclopedia of Fishes. San Diego: Academic Press. tr. 183. ISBN 0-12-547665-5. 
  3. ^ Ricardo Betancur-R., Richard E. Broughton, Edward O. Wiley, Kent Carpenter, J. Andrés López, Chenhong Li, Nancy I. Holcroft, Dahiana Arcila, Millicent Sanciangco, James C Cureton II, Feifei Zhang, Thaddaeus Buser, Matthew A. Campbell, Jesus A Ballesteros, Adela Roa-Varon, Stuart Willis, W. Calvin Borden, Thaine Rowley, Paulette C. Reneau, Daniel J. Hough, Guoqing Lu, Terry Grande, Gloria Arratia, Guillermo Ortí, 2013, The Tree of Life and a New Classification of Bony Fishes. PLOS Currents Tree of Life. 18-04-2013. Ấn bản 1, doi:10.1371/currents.tol.53ba26640df0ccaee75bb165c8c26288.
  4. ^ a ă Fraser T. H. (2013). A new genus of cardinalfish (Apogonidae: Percomorpha), redescription of Archamia and resemblances and relationships with Kurtus (Kurtidae: Percomorpha). Zootaxa 3714 (1): 001–063.
  5. ^ a ă â b c Mabuchi K., Fraser T. H., Song H., Azuma Y. & Nishida M. (2014). Revision of the systematics of the cardinalfishes (Percomorpha: Apogonidae) based on molecular analyses and comparative reevaluation of morphological characters. Zootaxa, 3846 (2): 151–203.
  6. ^ Fraser T. H. (2014).A new genus of cardinalfish from tropical Australia and southern New Guinea (Percomorpha: Apogonidae). Zootaxa 3852 (2): 283–293.
  7. ^ J. S. Nelson; T. C. Grande; M. V. H. Wilson (2016). Fishes of the World (ấn bản 5). Wiley. tr. 752. ISBN 978-1-118-34233-6. 

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]