Họ Cá sơn

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Họ Cá sơn
Apogon niger in aquarium.JPG
Apogon niger
Phân loại khoa học
Giới (regnum) Animalia
Ngành (phylum) Chordata
Lớp (class) Actinopterygii
Phân lớp (subclass) Neopterygii
Phân thứ lớp (infraclass)

Teleostei

Nhánh Osteoglossocephalai
Nhánh Clupeocephala
Nhánh Euteleosteomorpha
Nhánh Neoteleostei
Nhánh Eurypterygia
Nhánh Ctenosquamata
Nhánh Acanthomorphata
Nhánh Euacanthomorphacea
Nhánh Percomorphaceae
Nhánh Gobiaria
Bộ (ordo) Kurtiformes
Phân bộ (subordo) Apogonoidei
Họ (familia) Apogonidae
Günther, 1859
Các chi[2][1]

Họ Cá sơn[3] danh pháp khoa học: Apogonidae) là một họ nhà cá phân bố ở các vùng biển thuộc châu Á, Đại Tây Dương, Thái Bình Dương, hay ngoài khơi vùng biển Malaysia. Ở Việt Nam, cá sơn phân bố nhiều ở khu vực biển Miền Trung Việt Nam với nhiều loại là cá sơn thịt, cá sơn bạc thau, cá sơn vảy, cá sơn đá, cá sơn thóc, cá sơn gà và cá sơn to mắt.[4]

Phân loại[sửa | sửa mã nguồn]

Họ này theo truyền thống xếp trong bộ Perciformes[5], tuy nhiên gần đây người ta đã xem xét lại phát sinh chủng loài của và đề xuất tách họ này sang bộ Kurtiformes Günther, 1861[6].

Đặc điểm[sửa | sửa mã nguồn]

Cá sơn thường sống ở vùng gành biển, nơi có nhiều san hô. Mùa cá sơn là vào mùa , riêng mùa cá sơn thóc ở Khánh Hòa diễn ra từ tháng 10 cho đến hết năm.[7] Cá sơn có đặc điểm nổi bật là miệng rộng.[3] Thịt cá sơn trắng, dai, ăn rất ngon. Cá sơn thịt, cá sơn bạc thau không lớn con, cá sơn thóc và cá sơn to mắt thì lớn con hơn. Cá sơn gà thuộc họ cá sơn đá, cá sơn thóc nhưng nhỏ hơn, bề dài từ 10-15 cm. Đây là loại cá khá hiếm, thịt có màu trắng, thơm ngon, mềm và ngọt như thịt gà nên ngư dân vùng biển gọi là cá sơn gà.[8][9]

Về sinh sản, những con cá sơn cái sẽ đẻ ra một bọc trứng cá to ngay gần con cá đực được chọn. Sau khi con đực thụ tinh cho trứng, nó sẽ ngậm toàn bộ bọc trứng vào miệng trong thời gian ấp nở để bảo vệ đàn con khỏi kẻ thù. Những con cá sơn đực sẽ ngậm toàn bộ lô trứng đã thụ tinh trong miệng cho tới khi chúng sẵn sàng nở thành cá con, chúng sẽ ngậm toàn bộ trứng cá con trong miệng suốt nhiều tuần và cá bố sẽ không thể nào ăn uống được gì chừng nào cá con còn chưa nở, tuy nhiên, có tới 30% số trứng sẽ bị cá bố nuốt mất trong thời gian ấp nở.[3]

Ẩm thực[sửa | sửa mã nguồn]

Tùy từng loại cá sơn mà người dân biển chế biến thành nhiều kiểu món ăn như loại cá sơn thịt, cá sơn bạc thau thường được nấu canh với dưa hấu non, bí đao, bầu, cá sơn vảy thường được kho keo, cá sơn thóc và cá sơn to mắt thường được nấu canh chua, sốt cà chua, hấp hoặc nướng, đặc biệt là món cá sơn nướng.[4] Cá sơn gà được coi như một đặc sản dùng thết đãi khách từ phương xa tới thăm; hay những người con rời quê lâu năm ở vùng biển Nha Trang Khánh Hòa, hay rải rác ở Phan Thiết.[8][9]

Các chi[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â Fraser, T.H. (2013). A new genus of cardinalfish (Apogonidae: Percomorpha), redescription of Archamia and resemblances and relationships with Kurtus (Kurtidae: Percomorpha). Zootaxa, 3714 (1): 001–063.
  2. ^ Chủ biên Ranier Froese và Daniel Pauly. (2014). "Apogonidae" trên FishBase. Phiên bản tháng 11 năm 2014.
  3. ^ a ă â “Cách sinh đẻ có một không hai của loài cá Sơn”. Báo điện tử Dân Trí. 26 tháng 6 năm 2012. Truy cập 3 tháng 6 năm 2014. 
  4. ^ a ă “Cá sơn nướng”. Báo Bình Định. Truy cập 3 tháng 6 năm 2014. 
  5. ^ Chủ biên Ranier Froese và Daniel Pauly. (2014). "Apogonidae" trên FishBase. Phiên bản tháng 11 năm 2014.
  6. ^ Ricardo Betancur-R., Richard E. Broughton, Edward O. Wiley, Kent Carpenter, J. Andrés López, Chenhong Li, Nancy I. Holcroft, Dahiana Arcila, Millicent Sanciangco, James C Cureton II, Feifei Zhang, Thaddaeus Buser, Matthew A. Campbell, Jesus A Ballesteros, Adela Roa-Varon, Stuart Willis, W. Calvin Borden, Thaine Rowley, Paulette C. Reneau, Daniel J. Hough, Guoqing Lu, Terry Grande, Gloria Arratia, Guillermo Ortí, 2013, The Tree of Life and a New Classification of Bony Fishes. PLOS Currents Tree of Life. 18-04-2013. Ấn bản 1, doi:10.1371/currents.tol.53ba26640df0ccaee75bb165c8c26288.
  7. ^ “Ngư dân Khánh Hòa được mùa cá nục gai, cá sơn thóc”. vietnamplus.vn. 20 tháng 11 năm 2013. Truy cập 3 tháng 6 năm 2014. 
  8. ^ a ă Khánh Hòa (21 tháng 4 năm 2013). “Cá sơn gà, món ngon của biển”. Báo điện tử VnExpress. Truy cập ngày 8 tháng 1 năm 2014. 
  9. ^ a ă “Cá sơn gà”. Thanh Niên Online. Truy cập 3 tháng 6 năm 2014. 
  10. ^ a ă â b c Mabuchi, K., Fraser, T.H., Song, H., Azuma, Y. & Nishida, M. (2014). Revision of the systematics of the cardinalfishes (Percomorpha: Apogonidae) based on molecular analyses and comparative reevaluation of morphological characters. Zootaxa, 3846 (2): 151–203.
  11. ^ Fraser, T.H. (2014).A new genus of cardinalfish from tropical Australia and southern New Guinea (Percomorpha: Apogonidae). Zootaxa, 3852 (2): 283–293.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]