Hồ Thích

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Hu Shih 1960 color.jpg
Sinh 17 tháng 12, 1891(1891-12-17)
Thượng Hải, Nhà Thanh
Mất 24 tháng 2, 1962 (70 tuổi)
Đài Bắc, Đài Loan, Trung Hoa Dân Quốc
Trường phái Chủ nghĩa thực dụng, Chủ nghĩa kinh nghiệm
Sở thích Chủ nghĩa tự do, Hồng học, Triết học giáo dục

Hồ Thích[1] (giản thể: 胡适; phồn thể: 胡適; bính âm: Hú Shì; Wade–Giles: Hu Shih, 17 tháng 12, 1891 – 24 tháng 2, 1962), là một nhà ngoại giao, nhà văn tiểu luận và nhà triết học Trung Quốc. Ngày nay ông được công nhận rộng rãi là người có những góp to lớn cho chủ nghĩa tự docải cách ngôn ngữ ở Trung Quốc. Ông là người có ảnh hưởng trong phong trào Ngũ Tứ, là một trong những lãnh đạo của phong trào Tân Văn hóa và đồng thời cũng là chủ tịch đại học Bắc Kinh. Ông được đề cử giải Nobel Văn học năm 1939.[2] Ông quan tâm đến rất nhiều lĩnh khác nhau như văn học, lịch sử, phê bình văn học và giáo dục học.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Tên gốc là Tự Môn (tiếng Trung: 嗣穈; bính âm: Sì Mén; Wade–Giles: Ssu Men) and originally wrote under Hu Hung-hsing (Trung văn giản thể: 胡洪骍; Trung văn phồn thể: 胡洪騂; bính âm: Hú Hóngxīng; Wade–Giles: Hu Hung-hsing); his courtesy name was Xijiang (tiếng Trung: 希疆; bính âm: Xījiāng). He later changed his name to Hu Shih and his courtesy name to Shih-chih (Trung văn giản thể: 适之; Trung văn phồn thể: 適之; bính âm: Shìzhī; Wade–Giles: Shih-chih). He also had a number of other noms de plume.
  2. ^ “Nomination Database - Literature”. Nobelprize.org. Truy cập ngày 3 tháng 2 năm 2012.