Hội chứng HELLP

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Hội chứng HELLP

Picto infobox med.png
Red Ribbon.svg
Ruy băng đỏ là biểu tượng cho hội chứng HELPP
KhoaSản khoa
Triệu chứngMệt mỏi, phù, đau đầu, buồn nôn, đau bụng hạ sườn phải, mờ mắt, động kinh [1]
Biến chứngĐông máu nội mạc rải rác (DIC), rau bong non, suy thận, phù phổi cấp[1]
Khởi phát thường gặp3 tháng cuối thai kỳ hoặc ngay sau sinh [1]
Các kiểuĐiển hình, không điển hình [2]
Nguyên nhânChưa rõ[1]
Các yếu tố nguy cơTiền sản giật, sản giật, tiền sử hội chứng HELLP, sản phụ hơn 25 tuổi, Người da trắng[1]
Phương thức chẩn đoánXét nghiệm máu[2]
Tình trạng tương tựviêm gan virus, ban xuất huyết giảm tiểu cầu huyết khối, viêm túi mật, hội chứng huyết tán tăng ure máu[2]
Điều trịĐình chỉ thai nghén sớm nhất có thể, kiểm soát huyết áp [1][2]
Tần suất~0.7% thai phụ[2]

Hội chứng HELLP là một tai biến sản khoa bao gồm của tan máu, tăng men gansố lượng tiểu cầu giảm.[1] Hội chứng thường khởi phát trong 3 tháng cuối hoặc ngay sau khi sinh.[1] Các triệu chứng bao gồm mệt mỏi, phù, đau đầu, buồn nôn, đau bụng hạ sườn phải, giảm thị lực, chảy máu mũi, và co giật.[1] Biến chứng bao gồm đông máu nội mạch rải rác (DIC), bong nhau thaisuy thận.[1]

Nguyên nhân của hội chứng này vẫn chưa rõ.[1] Thường thì nó liên quan với tiền sản giật hoặc sản giật.[1] Các yếu tố nguy cơ bao gồm đã tiền sử mắc hội chứng này, sản phụ lớn hơn 25 tuổi, và da trắng.[1] Chẩn đoán là thường dựa trên xét nghiệm máu thấy các dấu hiệu của phá hủy tế bào hồng cầu (LDH lớn hơn 600 U/L), AST lớn hơn 70 U L, và tiểu cầu nhỏ hơn 100x109/L.[2]

Điều trị cần đình chỉ thai càng sớm càng tốt.[1] Đặc biệt đúng nếu mang thai ngoài 34 tuần.[2] Có thể dùng thuốc để hạ huyết áp và truyền máu nếu cần.[1] Corticosteroid có thể được sử dụng tăng tốc độ phát triển phổi của em bé, nếu vẫn trong thời kỳ đầu mang thai.[2]

Hội chứng HELLP xảy ra ở khoảng 0.7% phụ nữ mang thai và ảnh hưởng đến khoảng 15% phụ nữ sản giật hoặc tiền sản giật nặng.[2][3] Tử vong ở mẹ không phổ biến.[1] Tình trạng của trẻ thường liên quan đến trẻ được sinh sớm đến mức nào.[1] Hội chứng được đặt tên lần đầu tiên vào năm 1982.[2]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l m n o “HELLP syndrome”. Genetic and Rare Diseases Information Center (GARD) – an NCATS Program (bằng tiếng Anh). 2018. Truy cập ngày 5 tháng 10 năm 2018. 
  2. ^ a ă â b c d đ e ê g Haram K, Svendsen E, and Abildgaard U (tháng 2 năm 2009). “The HELLP syndrome: clinical issues and management. A Review”. BMC Pregnancy Childbirth 9: 8. PMC 2654858. PMID 19245695. doi:10.1186/1471-2393-9-8. 
  3. ^ “Preeclampsia and Eclampsia”. Merck Manuals Consumer Version. Tháng 3 năm 2018. Truy cập ngày 5 tháng 10 năm 2018.