HMS Juno (F46)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
HMS Juno (F46).jpg
Tàu khu trục HMS Juno (F46)
Phục vụ (Anh Quốc) Naval Ensign of the United Kingdom.svg
Tên gọi: HMS Juno (F46)
Hãng đóng tàu: Fairfield Shipbuilding and Engineering Company
Đặt lườn: 5 tháng 10, 1937
Hạ thủy: 8 tháng 12, 1938
Nhập biên chế: 25 tháng 8, 1939
Số phận: Đắm do không kích bởi máy bay Ý tại Địa Trung Hải, 21 tháng 5, 1941
Đặc điểm khái quát [1]
Lớp và kiểu: Lớp tàu khu trục J
Trọng tải choán nước: 1.690 tấn Anh (1.720 t) (tiêu chuẩn)
1.965 tấn Anh (1.997 t) (đầy tải)
Độ dài: 356 ft 6 in (108,66 m) (chung)
Sườn ngang: 35 ft 8 in (10,87 m)
Mớn nước: 9 ft (2,7 m) (đầy tải)
Động cơ đẩy: 2 × turbine hơi nước hộp số Parsons
2 × nồi hơi ống nước Admiralty
2 × trục
công suất 40.000 shp (30.000 kW)
Tốc độ: 36 hải lý một giờ (67 km/h; 41 mph)
Tầm xa: 5.500 nmi (10.190 km; 6.330 mi) ở tốc độ 15 hải lý một giờ (28 km/h; 17 mph)
Thủy thủ đoàn
đầy đủ:
183
Vũ trang:

6 x pháo QF 4,7 inch (120 mm) Mk.XII trên bệ nòng đôi CP Mk.XIX (3x2);
4 x pháo phòng không QF 2 pounder Mk.VIII (40 mm) L/39 trên bệ bốn nòng Mk.VII (1x4);
8 × súng máy 0,5 inch (12,7 mm) Mk.III trên bệ Mk.III (2x4);
10 × ống phóng ngư lôi 21 inch (530 mm) Mk. IX (2x5);

45 × mìn sâu[2]

HMS Juno (F46) là một tàu khu trục lớp J được Hải quân Hoàng gia Anh Quốc chế tạo vào cuối những năm 1930. Juno đã phục vụ trong Chiến tranh Thế giới thứ hai cho đến khi bị đánh chìm do không kích bởi máy bay Ý ngoài khơi đảo Crete, Địa Trung Hải vào ngày 21 tháng 5, 1941.

Thiết kế và chế tạo[sửa | sửa mã nguồn]

Juno được đặt hàng vào ngày 25 tháng 5, 1937.[3] Nó được đặt lườn tại xưởng tàu của hãng Fairfield Shipbuilding and Engineering Company, Ltd. ở Govan, Scotland vào ngày 5 tháng 10, 1937, được hạ thủy vào ngày 8 tháng 12, 1938 và nhập biên chế cùng Hải quân Hoàng gia Anh vào ngày 25 tháng 8, 1939.

Lịch sử hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

Juno đã tham gia Trận Calabria vào tháng 7, 1940[4]Trận chiến mũi Matapan vào tháng 3, 1941.

Đang khi di chuyển cùng với Hạm đội Địa Trung Hải để chống lại một cuộc đổ bộ nhảy dù của quân Đức nhằm chiếm Crete, Juno bị một máy bay CANT Z.1007 Ý thuộc Liên đội 50 do Trung úy Morassuti điều khiển, tấn công;[5] và bị đánh chìm ở cách 30 hải lý (56 km) về phía Đông Nam Crete, tọa độ 34°35′B 26°34′Đ / 34,583°B 26,567°Đ / 34.583; 26.567Tọa độ: 34°35′B 26°34′Đ / 34,583°B 26,567°Đ / 34.583; 26.567, vào ngày 21 tháng 5, 1941.[5]

Vào lúc bị đánh đắm, Juno đang dưới quyền chỉ huy của Hạm trưởng, Trung tá Hải quân John Reginald Joseph Tyrwhitt, và có một thủy thủ đoàn từ 183 đến 218 người. 116 người đã thiệt mạng sau ba vụ nổ làm vỡ đôi con tàu và chìm chỉ trong vòng 97 giây.[6]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Whitley 2000, tr. 117
  2. ^ Gardiner & Chesneau 1980, tr. 41
  3. ^ Whitley 2000, tr. 118
  4. ^ “SERVICE HISTORIES of ROYAL NAVY WARSHIPS in WORLD WAR 2 by Lt Cdr Geoffrey B Mason RN (Rtd) (c) 2004 HMS JUNO (F 46) - J-class Destroyer including Convoy Escort Movements”. www.naval-history.net. Truy cập ngày 16 tháng 9 năm 2012. 
  5. ^ a ă “HMS Juno (F 46) Destroyer of the J class”. uboat.net. Truy cập ngày 16 tháng 9 năm 2012. 
  6. ^ “HMS Juno (F46) [+1941]”. www.wrecksite.eu. Truy cập ngày 16 tháng 9 năm 2012. 

Thư mục[sửa | sửa mã nguồn]