Han Ye-seul

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Han Ye Seul)
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Đây là một Han, họ là Kim.
Han Ye-seul
190502 SBS '빅이슈' 종방연 한예슬 (2).jpg
SinhLeslie Kim
18 tháng 9, 1981 (38 tuổi)
Los Angeles, California, Hoa Kỳ.
Quốc tịch Hàn Quốc
Nghề nghiệpDiễn viên
Năm hoạt động2001–nay
Đại lý
Tên tiếng Hàn
Hangul한예슬
Romaja quốc ngữHan Ye-seul
McCune–ReischauerHan Yesŭl

Han Ye-seul (sinh ngày 18 tháng 9 năm 1981) là một nữ diễn viên người Mỹ gốc Hàn Quốc. Cô xuất hiện lần đầu trong bộ phim sitcom Nonstop 4 (2003) và từ đó đóng vai chính trong các bộ phim truyền hình như Cặp đôi kỳ lạ (2006), Canh bạc nghiệt ngã (2008), Tuyết có rơi đêm Giáng Sinh? (2009)Sản sinh mỹ nữ (2014), cũng như phim điện ảnh Cô nàng đào mỏ (2007) và Lượm nhặt tình yêu (2011).

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Leslie Kim sinh ra và lớn lên tại Los Angeles, California.[4] Cô theo học trường Trung học Cerritos và tốt nghiệp trường Cao đẳng Cerritos với bằng tốt nghiệp cao đẳng ngành đồ họa vi tính.[5] Cô thông thạo cả tiếng Anh và tiếng Hàn Quốc.[4][6]

Cô từ bỏ quốc tịch Mỹ vào năm 2004 và nhập quốc tịch Hàn Quốc để hoạt động như một nữ diễn viên Hàn Quốc.[7][8]

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Khởi đầu[sửa | sửa mã nguồn]

Han Ye-seul khởi đầu với tư cách là một người mẫu sau khi chiến thắng một cuộc thi siêu mẫu vào năm 2001.[9]

Cô xuất hiện trong một loạt các quảng cáo tại Hàn Quốc từ thức uống sức khỏe đến mỹ phẩm, thời trang phụ nữ Venus, Pizza Hut, Samsung và quảng cáo cho điện thoại Motorola. Cô cũng là người lồng tiếng cho nhân vật Susan Murphy trong phiên bản tiếng Hàn của DreamWorks Animation trong bộ phim Monsters vs. Aliens (2009). Cô xuất hiện trong video âm nhạc "Love Song" của Rain.[cần dẫn nguồn]

Vào tháng 9 năm 2014, Han Ye-seul đã ký một hợp đồng độc quyền với cơ quan quản lý KeyEast mới của cô.[10][11]

Đời tư[sửa | sửa mã nguồn]

Han Ye-seul đã tham gia vào một cuộc tranh chấp với đài KBS vì không có mặt để quay bộ phim Myung Wol Spy vào ngày 14 tháng 8 năm 2011.[12] Cơ quan quản lý của cô đã trích dẫn rằng cô phàn nàn với Đoàn làm phim Myung Wol Spy về điều kiện làm việc của mình, mặc dù trước đó giải thích rằng sự vắng mặt của cô là kết quả của sức khỏe kém.[13][14] Bản báo cáo nói rằng cô đã làm việc thêm nhiều giờ và đã ngủ rất ít trong vài tuần. Cô đã phải tiêm thuốc vì quá mệt mỏi. Cô bất ngờ rời Hàn Quốc để quay trở lại Los Angeles vào ngày đó.[15] Tại một cuộc họp vào ngày 15 tháng 8, Han Ye-seul đã đồng ý quay phim trở lại vào ngày 16.

Cô trở về Hàn Quốc vào ngày 18, đưa mẹ cô trở lại Hàn Quốc để hỗ trợ cô. Han Ye-seul đã mở một cuộc họp báo tại sân bay xin lỗi về sự vắng mặt bất ngờ của mình với lý do khó khăn, gian khổ mà cô đã trải qua. Cô nhận xét rằng cô tin chắc rằng những gì mình đã làm là đúng, mặc dù có những lời chỉ trích từ công chúng và các phương tiện truyền thông.[16]

Ngày 25 tháng 11 năm 2013, cơ quan quản lý của Han Ye-seul và đại diện của YG Entertainment vừa xác nhận rằng cô và 1TYM's Teddy đang hẹn hò.[17][18] Ngày 24 tháng 10 năm 2016, cả hai xác nhận đã chia tay.

Các phim đã đóng[sửa | sửa mã nguồn]

Phim truyền hình[sửa | sửa mã nguồn]

  • 2019, SBS: Big Issue - Ji Soo Hyun
  • 2017, MBC: 20th Century Boy and Girl - Sa Jin Jin
  • 2016, JTBC: Madame Antoine - Sung Jun
  • 2014, SBS: Birth of a Beauty - Joo Sang Wook
  • 2011, KBS2: Spy Myung-wol - Eric Mun
  • 2009, SBS: Will It Snow for Christmas? - Go Soo
  • 2008, SBS: Tazza - Jang Hyuk
  • 2006, MBC: Couple or Trouble - Oh Ji Ho
  • 2005, SBS: That Summer's Typhoon
  • 2004, KBS: Forbidden Love - Kim Tae Hee
  • 2003, MBC: Breathless
  • 2003, MBC: Nonstop 4 - Hyun Bin

Phim điện ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

  • 2011: Penny Pinchers - Song Joong Ki
  • 2007: Miss Gold Digger

Music Video[sửa | sửa mã nguồn]

  • 2010, Rain's MV – "Love Song" , nữ chính

Chương trình thực tế[sửa | sửa mã nguồn]

Giải thưởng[sửa | sửa mã nguồn]

  • 2015 Huading Awards: Đề cử nữ diễn viên xuất sắc toàn cầu
  • 2014 SBS Drama Awards: Best Couple with Joo Sang Wook (Birth of a beauty)
  • 2014 SBS Drama Awards: Top 10 Stars (Birth of a beauty)
  • 2011 30th Blue Dragon Film Awards: Best new actress (Miss Gold Digger)
  • 2008 SBS Drama Awards: Excellence Award, Actress in a Special Planning Drama (Tazza)
  • 2008 SBS Drama Awards: Top 10 Stars (Tazza)
  • 2008 29th Blue Dragon Film Awards: Best New Actress for (Miss Gold Digger)
  • 2008 Golden Cinematography Awards: Best New Actress (Miss Gold Digger)
  • 2008 45th Grand Bell Awards: Best New Actress (Miss Gold Digger)
  • 2008 45th Grand Bell Awards: BMW Popularity Award, Actress
  • 2008 44th Baeksang Arts Awards: Best New Actress (Miss Gold Digger)
  • 2007 Asia Model Awards: Model Star Award
  • 2007 43rd Baeksang Arts Awards: Popularity Award, Actress
  • 2006 MBC Drama Awards: Excellence Award, Actress (Couple or Trouble)
  • 2006 MBC Drama Awards: Popularity Award, Actress (Couple or Trouble)
  • 2006 MBC Drama Awards: Best Couple Award with Oh Ji-ho (Couple or Trouble)
  • 2004 MBC Entertainment Awards: Top Excellence Award, Actress in a Sitcom/Comedy (Nonstop 4)
  • 2001 Super Model Contest: Juliet Award

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Park, Ah-reum (17 tháng 9 năm 2014). “Han Ye Seul Joins Bae Yong Jun, Kim Soo Hyun and More at Keyeast”. enewsWorld. Truy cập ngày 17 tháng 5 năm 2015. 
  2. ^ “Han Ye-seul continues working with Keyeast”. Kpop Herald. 21 tháng 9 năm 2016. 
  3. ^ “Han Ye-seul signs with new agency”. Korea JoongAng Daily. 4 tháng 7 năm 2018. 
  4. ^ a ă Yang, Sung-jin (12 tháng 12 năm 2007). “Herald Interview: Han Ye-seul, a bilingual beauty, eyes foreign entertainment markets”. The Korea Herald via Hancinema. Truy cập ngày 18 tháng 6 năm 2015. 
  5. ^ “Han Ye-seul (한예슬)”. Korea Tourism Organization. Truy cập ngày 17 tháng 5 năm 2015. 
  6. ^ “An Eclipse for Han Ye-seul?”. Korea JoongAng Daily. Ngày 8 tháng 12 năm 2009. Truy cập ngày 17 tháng 5 năm 2015. 
  7. ^ '왕싸가지' 한예슬, 미국서 더 큰 인기”. Sports Seoul. Ngày 9 tháng 11 năm 2006. Truy cập ngày 7 tháng 7 năm 2012.  (tiếng Hàn)
  8. ^ “한예슬 '미국 국적 포기하겠다'. Korea Daily. Ngày 17 tháng 3 năm 2004. Truy cập ngày 7 tháng 7 năm 2012. 
  9. ^ “Han Ye Seul Wins Over Detractors as Amnesiac Heiress”. Chosun Ilbo. Ngày 28 tháng 10 năm 2006. Truy cập ngày 12 tháng 11 năm 2007. 
  10. ^ 'Han Ye Seul joins Key East Entertainment'. Allkpop. Ngày 17 tháng 9 năm 2014. 
  11. ^ “Actress Han Ye Seul Preparing for Her Return, Currently in Talks for New SBS Drama”. Soompi. Truy cập 7 tháng 3 năm 2015. 
  12. ^ “‘스파이명월’ 촬영거부 한예슬, 이젠 현명하게 처신할 때”. Nate (bằng tiếng Triều Tiên). Ngày 15 tháng 8 năm 2011. Truy cập ngày 15 tháng 8 năm 2011. 
  13. ^ “드라마 촬영 거부 한예슬, PD 교체 요구…에릭은 날벼락”. Donga News (bằng tiếng Triều Tiên). Ngày 15 tháng 8 năm 2011. Truy cập ngày 15 tháng 8 năm 2011. 
  14. ^ “한예슬 촬영거부 왜? "한예슬 몸상태 안좋아" 해명”. 뉴스 (bằng tiếng Triều Tiên). Ngày 14 tháng 8 năm 2011. Truy cập ngày 15 tháng 8 năm 2011. 
  15. ^ '출국'한예슬, '스파이명월' 여주인공 교체 '누구?'. 저작권자 (bằng tiếng Triều Tiên). Ngày 16 tháng 8 năm 2011. Truy cập ngày 15 tháng 8 năm 2011. 
  16. ^ “한예슬 귀국”. etoday.co.kr. Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2011. 
  17. ^ 'Han Ye-seul Admits to Dating YG’s Producer Teddy”. tenasia. Ngày 25 tháng 11 năm 2013. 
  18. ^ YG’s Composer Teddy and Han Ye Seul Confirmed to be Dating!

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]