Hellmuth Karasek

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Hellmuth Karasek
Hellmuth Karasek 3821-2.jpg
Sinh 4 tháng 1 năm 1934
Brünn, Tiệp Khắc
Mất 29 tháng 9 năm 2015(2015-09-29) (81 tuổi)
Hamburg, Đức
Nghề nghiệp Ký giả, nhà văn
Năm hoạt động 1965–2015
Hellmuth Karasek (trái) và Jens Rusch

Hellmuth Karasek (4 tháng 1 năm 1934 – 29 tháng 9 năm 2015) là một ký giả Đức, một nhà phê bình văn học, nhà văn, tác giả nhiều cuốn sách về văn chương và phim ảnh.

Karasek sinh tại Brünn, Tiệp Khắc. Karasek đã từng thuộc đoàn thiếu niên Hitler và theo học tại viện giáo dục chính trị quốc gia ở Loben.[1] Năn 1944, khi ông lên 10, gia đình ông đã di tản từ Bielitz (ngày nay thuộc Ba Lan) tới Bernburg. Sau khi học xong trung học đầu thập niên 1950, ông chuyển từ Đông Đức—sang Tây Đức và theo học tại đại học Tübingen.

Sau khi tốt nghiệp, Karasek làm việc như là một ký giả, và từ năm 1968 trở thành nhà phê bình kịch nghệ của tờ báo Die Zeit. Từ 1974 cho tới 1996 ông làm việc cho báo hàng tuần Der Spiegel, sau đó cho đến 2004 ông cùng là chủ nhiệm báo hàng ngày Tagesspiegel[2]. Năm 1999, ông trở thành thành viên ban giám khảo Đại hội phim ảnh quốc tế Berlin 49.[3]

Vào những năm cuối cùng, Karasek thường xuất hiện trên truyền hình Đức, cùng với Marcel Reich-Ranicki, một trong những thành viên thường xuyên của chương trìnnh phê bình văn học Das Literarische Quartett.

Phát biểu[sửa | sửa mã nguồn]

Karasek phát biểu về quá khứ của mình với thông tấn xã DPA: „ Tôi đã sống dưới 2 chế độ độc tài. Chế độ thứ nhất ban đầu tôi thích, nhưng sau này nhận ra, đó là một chế độ bẩn thiểu. Còn chế độ thứ hai, thì tôi đã ghét ngay từ đầu“.[4]

Thư mục[sửa | sửa mã nguồn]

  • Carl Sternheim (1965)
  • Max Frisch (1966)
  • Deutschland, deine Dichter (1970)
  • Brecht, der jüngste Fall eines Klassikers (1978)
  • Billy Wilder (1992)
  • Mein Kino (a personal list of the 100 best movies ever) (1994)
  • Go West! (about the 1950s) (1996)
  • Hand in Handy (about the mobile phone craze) (1997)
  • Das Magazin (novel, 1998)
  • Betrug (novel, 2001)
  • Karambolagen. Begegnungen mit Zeitgenossen (2002)
  • Auf der Flucht (memoir, 2004)

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Napolas im dritten Reich: Hitlers brutale Kaderschmieden
  2. ^ “Berlinale: 1999 Juries”. berlinale.de. Truy cập ngày 28 tháng 1 năm 2012. 
  3. ^ “Der große Schwärmer”. Die Zeit. Truy cập ngày 29 tháng 9 năm 2015. 
  4. ^ Hellmuth Karasek feiert 80. Geburtstag In: Deutsche Welle, 3 tháng 1 năm 2014.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]