Hoàng Tân (xã)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Hoàng Tân, Quảng Yên)
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Hoàng Tân

Hành chính
TỉnhQuảng Ninh
Thị xãQuảng Yên
Thành lập1957[1]
Địa lý
Tọa độ: 20°54′7″B 106°55′10″Đ / 20,90194°B 106,91944°Đ / 20.90194; 106.91944Tọa độ: 20°54′7″B 106°55′10″Đ / 20,90194°B 106,91944°Đ / 20.90194; 106.91944
Diện tích67,5 km²[2]
Dân số (1999)
Tổng cộng3109 người[2]
Mật độ46 người/km²
Khác
Mã hành chính07156[2]

Hoàng Tân là một đảo thuộc thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh, Việt Nam.

Xã Hoàng Tân có diện tích 67,5 km², dân số năm 1999 là 3109 người,[2] mật độ dân số đạt 46 người/km²; Thống kê gần đây xã có  dân số 4.027 người thuộc 5 thôn[3].

Tên gọi và hành chính

Ngày 05-11-1957, UBHC khu Hồng Quảng  ra quyết định số 2435-TCCB đổi tên xã Hoàng Xá, huyện Yên Hưng thành xã Hoàng Tân[4]. Ngoài Hoàng Xá, Hoàng Tân còn có các tên gọi cũ là Hoàng Lỗ, Hoàng Hà và làng Giỗ. Tên Hoàng Lỗ gắn với truyền thuyết kể rằng, xưa kia quan lính triều đình về kiểm kê dân số bằng cách đào hố, rồi xếp dân đứng vào mà đếm hố.

Vào năm Minh Mạng thứ 12 (1831), tỉnh Quảng Yên được thành lập, làng Hoàng Lỗ, gồm cả đảo Tuần Châu (nay là phường Tuần Châu, thành phố Hạ Long), thuộc tổng Hà Bắc, huyện Yên Hưng. Năm 1948, làng Hoàng Lỗ thuộc xã Tiền An. Ngày 06 tháng 7 năm 1957, theo quyết định của Ủy ban Hành chính Khu Hồng Quảng, thôn Hoàng Lỗ đổi thành xã Hoàng Xá và đảo Tuần Châu được tách khỏi  Hoàng Xá, trực thuộc thị xã Hòn Gai[5].

Điều kiện tự nhiên

Đảo Hoàng Tân nằm chắn cửa vụng Yên Lập, phía Nam và Đông Nam giáp Vịnh Hạ Long;  ngăn cách với thị xã Quảng Yên qua lạch biển Bến Giang ở phía Tây, ngăn cách với thành phố Hạ Long qua lạch biển Bình Hương về phía Đông Bắc. Tuyến đường cao tốc Hải Phòng – Hạ Long đang xây  dựng chạy qua Tây Bắc đảo.

Về địa chất, đá trầm tích lục nguyên tuổi Trias thuộc hệ tầng Hòn Gai (T3hg) phân bố  ở dải đồi phía Đông Bắc đảo, cao nhất 81m; Đá vôi thuộc hệ tầng Bắc Sơn (C-P bs) phân bố thành các mỏm núi phía Tây Và phía Đông Nam đảo, cao trên dưới một trăm mét[6]. Phần lớn diện tích đảo là các trầm tích Đệ tứ và các khu dân cư tập trung trên các thềm cát biển tuổi Holocen giữa cao 4-6m. Viền  quanh đảo là các bãi triều trầm tích bùn bột  sét tuổi Holocen muộn bị chia cắt bởi hệ thống lạch triều chằng chịt.

Hoàng Tân cảnh đẹp và giàu có tài nguyên thiên nhiên, nhất là hải sản và khoáng sản, có các hệ sinh thái  biển và rừng tiêu biểu. Trên đồi có rừng thông thơ mộng rộng khoảng 300 ha. Trước kia, bao quanh đảo là vùng rừng ngập mặn rậm rạp, mênh mông, nay hầu hết đã bị chặt phá do khai hoang và nuôi trồng  thủy sản. Diện tích bãi triều được khoanh nuôi thuỷ sản  1.241 ha. Đá vôi Hoàng Tân có trữ lượng trên 20 triệu tấn, nhưng cần dừng khai thác vì gây hủy hoại cảnh quan tự nhiên, sinh thái và ảnh hưởng nghiêm trọng đến các di tích khảo cổ và lịch sử. Trên đảo có khoáng sản barit trữ lượng vài chục ngàn tấn, dạng mạch xuyên cắt các lớp đá cát kết và bột kết thuộc tệ tầng Hòn Gai (T3 hg)[4]

Lịch sử

Chế độ làng xã được thiết lập từ khoảng đời nhà Trần[5]. Dân đảo Hoàng Tân chất phác và quả cảm, kiên cường bám trụ nơi đầu sóng ngọn gió chống giặc ngoại xâm và cướp biển nhờ dựa vào địa hình hiểm trở, hang động và rừng sú vẹt rậm rạp. Vua Tự Đức đã sắc phong cụ Nguyễn Văn Hội có công lãnh đạo hơn trăm dân binh xã Hoàng Lỗ  triễu từ Hải  tặc[7].

Chủ tịch Ủy ban Hành chính đầu tiên của xã dưới chế độ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là ông Trần Văn Le (tháng 8 năm 1945 - tháng 1 năm 1947). Trong kháng chiến chống Pháp, nơi đây là căn cứ vững chắc của Việt Minh. Ngày 15 tháng 3 năm 1953, bộ đội địa phương và du kích Hoàng Tân đã lập chiến công vang dội, đã đánh chiếm một tàu Pháp trên sông Bình Hương, diệt 4 và bắt sống 20 sĩ quan và binh lính Pháp. Năm 1951, Quân đội Pháp đốt phá sạch cả làng, dồn dân vào đất liền để cô lập lực lượng Việt Minh trên đảo. Ra đi trong cảnh bi ai, nhưng người dân Hoàng Tân vẫn tin vào ngày trở về, như lời bài thơ Nôm của cụ Trần Văn Duệ (1890-1979) viết ra khi Hoàng Tân đang chìm trong biển lửa:

Người đi cảnh ở não nùng thay!

Dặn cảnh đừng long cứ vững cây

Gặp lúc bĩ tần đành chịu vậy

Mai ngày lai thái lại sum vầy.

Ba năm sau, Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954 được ký kết, hòa bình lập lại và dân làng hồi cư về quê cũ[5].  

Hoàng Tân có hai lần giỗ trận bi thương. Lần thứ nhất vào ngày 20 và 21 tháng 5 năm 1950, Quân đội Pháp đã càn quét sát hại trên 20 cán bộ và dân thường; lần thứ hai Không quân Hoa Kỳ ném bom và bắn rốc két  giết hại 15 người và làm bị thương 53 người tại thôn Hà Thịu vào đêm ngày 16, rạng sáng ngày 17 tháng 4 năm 1972.

Trong cuộc kháng chiến chống Pháp (1945-1954), cả xã không có ai hợp tác với Pháp, xã đảo được tặng Huân chương Kháng chiến Hạng Ba (1958), với 318 lượt người gia nhập bộ đội và du kích, trong đó có 08 người là liệt sĩ. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ (1965-1975) xã đảo được tặng Huân chương Kháng chiến Hạng Ba (1976), với 151 người nhập ngũ, trong đó có 17 người là liệt sĩ. Liệt sĩ Lê Văn Đức (sinh năm 1944, hy sinh năm 1967) và Liệt sĩ Lê Văn Mỹ (sinh năm 146, hy sinh năm 1968) là hai anh em ruột.

Văn hóa

Ở Hoàng Tân đã phát hiện được nhiều di tích khảo cổ thể hiện con người có mặt tại đây trên một vạn năm qua bốn thời kỳ: Hậu kỳ đá cũ, đá mới, kim khí và phong kiến. Năm 2012, Bộ VHTTDL đã có Quyết định số 2627/QĐ-BVHTTDL  xếp hạng di tích quốc gia cho Di chỉ Khảo cổ núi Đầu Rằm[8].Người cổ Đầu Rằm ở giai đoạn sớm nằm trong khung niên đại Phùng Nguyên muộn - Đồng Đậu sớm, khoảng 3.300 – 2.700 năm cách ngày nay. Giai đoạn muộn tương đương với giai đoạn Đường Cồ với rất nhiều di vật đồ đồng thuộc văn hóa Đông Sơn, có niên đại cách ngày nay 2.500-2000 năm, tức là thời kỳ Hùng Vương.[4] Trên các núi đá vôi còn có các hang động là di tích lịch sử qua các thời kỳ như hang Các Cụ, hang Thương Binh, hang Bộ Đội v.v.

Hoàng Tân trước đây có đình  và chùa từ lâu đời, nhưng bị đại bác Pháp tàn phá trong những năm kháng chiến, nay chùa đã được xây dựng lại trên núi Dộc Chùa. Trên xã đảo còn có di tích miếu Ông Nghè và miếu Ông Cống tôn vinh người có  học thức.

Một bộ xương cá voi kích thước lớn được phát hiện vào tháng 7 năm 1986  nằm vùi  trong trầm tích Holocen giữa và dưới bề mặt bãi triều lầy sú vẹt 1,2m tại bãi Lau Bằng phía Nam-Tây Nam đảo. Có lẽ đây là bộ xương cá Voi có tuổi cổ nhất phát hiện được ở Việt Nam, hiện đang được trưng bày tại Bảo tàng tỉnh Quảng Ninh[9]

Trong thời kỳ Không quân Hoa Kỳ bắn phá Miền Bắc, Trường phổ thông Cấp III Bạch Đằng (Quảng Yên) sơ tán tại xã đảo vào các năm 1965 - 1968, đã để lại nhiều ấn tượng và kỷ niệm tốt đẹp với nhân dân địa phương. Ngày 09 tháng 11 năm 1967, triều cường làm vỡ đê biển Cành Chẽ, hàng trăm thầy trò nhà trường đã dũng cảm cùng nhân dân lăn xả hộ đê, cứu được đồng lúa đang chín rộ. Nhiều con em xã đảo đã trưởng thành là lãnh đạo các cấp, doanh nhân, sĩ quan cao cấp và trí thức, từ kỹ sư, nhà giáo ưu tú đến giáo sư.

Tình yêu tha thiết với quê hương Hoàng Tân giàu đẹp được diễn tả trong lời một bài hát có tên "Đất mẹ Hoàng Tân"[10]

Kinh tế

Trước kia kinh tế mang tính tự cấp, từ đầu năm 1994  con đập ngăn sông Bến Giang đã mở đường ra đảo tạo nên bước ngoặt mới trong đời sống kinh tế - xã hội cho xã đảo. Nông nghiệp, thủy sản, khai thác đá và vận tải là những nghề chính của cư dân. Nuôi trồng hải sản các loại tôm, cua, cá v.v. và đặc biệt là nuôi hầu hà gần đây mang lại nguồn lợi cho dân xã đảo. Năm 2014, tổng giá trị sản xuất của xã đạt 61 tỉ đồng, tăng 11,9% so với năm 2013. Trong đó, giá trị tiểu thủ công nghiệp – xây dựng cơ bản 23,8%; nông lâm ngư 56,5%;  kinh tế khác 19,7%. Thu nhập bình quân đạt trên 26 triệu đồng/người[3].

Hoàng Tân có nhiều đặc sản nổi tiếng như ngán, cua và bạch tuộc (ruốc), mật ong v.v. Bánh gio Hoàng Tân ngon nhất vùng Quảng Yên nhờ hương vị hỗn hợp của tro cây Giá ven biển và cây Gai sồng trên núi, được gói bằng lá Ỏng (một loại lau rừng).

Tỉnh Quảng Ninh đang thực hiện hồ sơ, thủ tục quyết định chủ trương đầu tư dự án Khu đô thị phức hợp Hạ Long Xanh, nằm dọc cao tốc Hải Phòng - Hạ Long chủ yếu nằm trên địa phận xã đảo Hoàng Tân và phường Hà An thuộc thị xã Quảng Yên. Dự án có quy mô khoảng 3.186 ha và tổng mức đầu tư khoảng hơn 7 tỷ USD.[11]

Địa danh

1. Bãi Lau Bằng: Khu bãi cát và thềm cát, biển có rừng ngập mặn và núi đá vôi bao quanh, ở phía Tây Nam đảo. Tại đây đã phát hiện được bộ xương cá voi khổng lồ.

2. Bến Giang: Bến đò qua sông Bến Giang sang đất Tiền An nằm ở phía Tây đảo. Đến năm 1994, đập bến Giang đã thay thế con đò qua sông.

3.Dộc Chùa: Thung lũng nằm giữa các đồi thông ở khu vực giữa dải núi phía Đông đảo, có phong cảnh đẹp và thơ mộng không khác gì Đà Lạt, có ngôi chùa cổ bị tàn phá thời chống Pháp vừa được phục dựng.

4.Đầu Rằm: Di chỉ khảo cổ nổi tiếng nằm ở phía Tây đảo nằm trên tổ hợp thềm cát biển và núi đá vôi, đã được công nhận là di tích khảo cổ Quốc gia.

5.Đượng Hạc: Dấu tích còn sót lại của đồng bằng châu thổ cổ trên vùng triều ngập nước mênh mông ở phía Bắc đảo. Đượng Hạc được biết đến với câu chuyện “Người đàn bà bị cọp vồ”của Dương Phượng Toại in trong tập truyện cùng tên (Nhà xuất bản Văn học, 2009)[12].

6.Hang Các Cụ: Một hang động karst trong núi đá vôi Cành Chẽ, ở vị trí gần trung tâm đảo, thuộc hệ tầng Bắc Sơn (C-P bs). Đây là nơi nhiều thế hệ cư dân Hoàng Tân ẩn nấp và làm căn cứ chống lại cướp biển và giặc ngoại xâm, kể cả thực dân Pháp.

7.Hòn Dáu: Hòn đảo nhỏ ở phía Đông Bắc Hoàng Tân, cấu tạo bằng đá gốc hệ tầng Hòn Gai(T3-hg) nằm trên vùng triều, sát lạch sông Bình Hương, nơi xảy ra trận đánh thắng oanh liệt tàu chiến Pháp ngày 14/3/1953.

8.Núi Trán Rồng: Nằm ở phía Đông Nam, có đỉnh cao nhất đảo (81m), cấu tạo từ đá trầm tích hệ tầng Hòn Gai (T3-hg), có hình dáng một con rồng nằm phủ phục ngay sát bờ Vịnh Hạ Long. Trong kháng chiến chống Pháp, tại đây một cây nêu đã được dựng để báo hiệu cho dân làng biết mỗi khi có tàu chiến Pháp đổ bộ. Trong chiến tranh chống Mĩ, tại đây đặt khẩu đội súng 12ly7 trực chiến thường xuyên.

9.Sông Bình Hương: Lạch triều sâu, rộng nằm ở phía Bắc - Đông Bắc và ngăn cách đảo với Thành phố Hạ Long, là đường thủy huyết mạch vào vụng Yên Lập.

Nhân vật

1. Bùi Thị Dịp (1918 - 1994), Bà Mẹ Việt Nam Anh Hùng, là mẹ của hai Liệt sỹ hy sinh ở mặt trận phía Nam trong thời kỳ chống Mỹ: Liệt sỹ Lê Văn Đức, sinh năm 1944, hy sinh năm 1967 và Liệt sỹ Lê Văn Mỹ, sinh năm 1946, hy sinh năm 1968.

2. Bùi Văn Thảo: Chủ tịch UBHC xã (3/1953-5/1955).

3. Chu Quang Hồng: Chủ tịch UBHC xã (2/1951- 5/1952).

4. Đàm Quang Cấn: Sĩ quan QĐND Việt Nam thời kỳ chống Pháp, người chỉ huy trận Hòn Dáu đánh thắng tàu chiến Pháp trên sông Bình Hương ngày 14/3/1953.

5. Hà Ngọc Trung: Chủ tịch UBHC xã (3/1953-5/1956 và 10/1956-9/1959); Bí thư chi bộ xã (5/1955-5/1956 và 10/1956 – 9/1959), chỉ huy du kích tham gia trận Hòn Dáu đánh thắng tàu chiến Pháp trên sông Bình Hương ngày 14/3/1953.

6. Hoàng Đình Dong: Đại tá QĐND Việt Nam thời kỳ chống Mĩ, phó chỉ huy trưởng, tham mưu trưởng bộ tư lệnh, bộ đội biên phòng tỉnh Quảng Ninh (năm….), là con trai cụ Chu Quang Hồng.

7. Lê An Khang: Bí thư chi bộ xã (11/1948-10/1949 và 8/1952-3/1953), sĩ quan QĐND Việt Nam thời kỳ chống Pháp, viện trưởng viện kiểm soát nhân dân thị xã Uông Bí (nay là thành phố Uông Bí), tỉnh Quảng Ninh (năm….).

8. Lê Văn Kỳ: Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc xã (2/1946 – 1/1947).

9. Lê Văn Men: Đại tá, Sĩ quan QĐND, hiện là chủ nhiệm chính trị, Bộ tư lệnh Bộ đội Biên phòng tỉnh Quảng Ninh.

10. Nguyễn Đình Quý: Chủ tịch UBHC xã (3/1966-5/1966) và Bí thư chi bộ xã (10/1961-8/1968).

11. Nguyễn Thành phố: Chủ tịch UBND thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng ninh, (năm 2005 - 2013); Bí thư Thành ủy thành phố Uông Bí (năm 2013-2915), tỉnh ủy viên Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh (KHÓA XII, năm 2011-2015), bộ đội thời kỳ chống Mĩ, là cháu bốn đời của cụ Nguyễn Văn Hội.

12. Nguyễn Văn Hội: Nho sinh thời vua Tự Đức (năm…..), người có công chống cướp biển và được nhà vua vua sắc phong hàm Thất phẩm (1880 - năm Tự Đức thứ 33).

13. Nguyễn Xuân Mịch: Đại tá CAND, Phó giám đốc công an Thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh (năm ……).

14. Phạm Xuân An: Chủ tịch UBHC xã (10/1950- 12/1951).

15. Trần Đức Thắng: Chủ tịch UBHC xã (10/1961-1/1964), Bí thư chi bộ xã (9/1959-10/1961), chủ nhiệm HTX Nông nghiệp (12/1961-2/1964), trưởng thông Tân Ngư (1948-1950).

16. Trần Đức Thạnh: Giáo sư, Tiến sĩ, Viện trưởng Viện Tài nguyên và Môi trường biển, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam (2003-2014), Phó Tổng biên tập Tạp chí Khoa học và Công nghệ biển (2011- hiện tại), là con trai của cụ Trần Đức Thắng.

17. Trần Ngọc Huân: Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc xã (7/1949 – 12/1952).

18. Trần Thị Thơi: Nhà giáo ưu tú, Hiệu trưởng Trường trung học cơ sở Kim Đồng, thành phố Hạ Long (2006 -.2017), là con gái của cụ Trần Đức Thắng..

19. Trần Văn Le: Chủ tịch UB hành chính đầu tiên dưới chế độ Việt Nam dân chủ Cộng hòa (8/1945- 1/1947); Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc xã (1/1947-7/1949).

20. Trần Văn Phúc: Bí thư chi bộ xã (9/1959-10/1961 và1/1964-9/1966), Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc xã (12/1952 - 5/1953), chủ nhiệm HTX Nông nghiệp (4/1959-12/1961).

21. Trương Văn Thính: Bí thư Đảng ủy xã (3/1982- 10/1988), huyện ủy viên Đảng bộ Huyện Yên Hưng (Năm....), là con trai của cụ Trương Văn Thịnh.

22. Trương Văn Thịnh: Chủ tịch UBND xã (1/1947- 10/1950 ), Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc xã (8/1945-2/1946).

23. Vũ Đình Lương: Chủ tịch UBND xã (5/1952- 3/1953).

TỔ QUỐC GHI CÔNG

Các liệt sỹ thời kỳ chống Mỹ và bảo vệ Biên giới

1. Nguyễn Văn Thanh (1943), hy sinh ngày 28/01/1966

2. Nguyễn Văn Chử (1932), hy sinh ngày 03/03/1966

3. Nguyễn Trọng Lý (1947), hy sinh ngày 20/03/1967

4. Lê Văn Đức (1944), hy sinh ngày 22/05/1967

5. Trần Văn Bốn (1939), hy sinh ngày 29/01/1968

6. Trần Văn Mài (1942), hy sinh ngày 12/07/1968

7. Lê Văn Mỹ (1946), hy sinh ngày 26/09/1968

8. Trần Đức Thặng (1949), hy sinh ngày 06/04/1970

9. Đỗ Văn Khái (1945), hy sinh ngày 08/10/1971

10. Lê Văn Tất (1938), hy sinh ngày 23/08/1972

11. Trần Đình Cung (1946), hy sinh ngày 25/08/1972

12. Trần Bình Trọng (1952), hy sinh ngày 03/09/1972

13. Bùi Văn Bóng (1947), hy sinh ngày 08/10/1972

14. Nguyễn Văn Chuẩn (1948), hy sinh ngày 29/01/1973

15. Trần Văn Bường (1945), hy sinh ngày 20/03/1973

16. Ngô Văn Bốc (1959), hy sinh ngày 16/11/1974

17. Nguyễn Văn Dân (1952), hy sinh ngày 08/04/1975

18. Ngô Văn Phương (1943), hy sinh ngày 01/02/1979

19. Lê Xuân Nhàng (1958), hy sinh ngày 17/02/1979

20. Dương Văn A (1962), hy sinh ngày 19/02/1979

21. Lê Quang Vịnh (1959), hy sinh ngày 05/04/1979

22. Nguyễn Văn Xúc (1958), hy sinh ngày 02/10/1979

23. Trần Văn Chiên (1958), hy sinh ngày 26/01/1983

24. Đinh Văn Suối (1962), hy sinh ngày 27/04/1985

25. Nguyễn Đình Xung (1958), hy sinh ngày 21/03/1997

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ 2435/1957/QĐ-TCCB
  2. ^ a ă â b “Mã số đơn vị hành chính Việt Nam”. Bộ Thông tin & Truyền thông. Truy cập ngày 10 tháng 4 năm 2012. 
  3. ^ a ă “Nông thôn mới ở xã đảo Hoàng Tân. Tạp chí Nông thôn Việt. Thứ Bảy, 28/03/2015.”. 
  4. ^ a ă â Địa chí Quảng Ninh. Tập 1 (Tự nhiên, Dân cư, Lịch sử và Truyền thống). Nhà xuất bản Thế giới. Năm 2001.
  5. ^ a ă â Đảng bộ xã Hoàng Tân, 2004. Lịch sử Đảng bộ Đảng cộng sản Việt Nam xã Hoàng Tân (1945-2000). Giấy phép xuất bản số 185/GPXB –VHTT, in tại Công ty May và In 27-7 Quảng Ninh.
  6. ^ Cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam, 1999. Bản đồ Địa chất và Khoáng sản Việt Nam, Tờ Hải Phòng F-48-XXIX.
  7. ^ “Sắc phong - Nguồn tư liệu lịch sử quý về truyền thống chống giặc bảo vệ quê hương”. 
  8. ^ “Quyết định Về việc xếp hạng di tích quốc gia DI TÍCH KHẢO CỔ NÚI ĐẦU RẰM XÃ HOÀNG TÂN, THỊ XÃ QUẢNG YÊN, TỈNH QUẢNG NINH”. 
  9. ^ “Trần Đức Thạnh, 1986. Phát hiện di tích xương cá voi trong trầm tích biển Holocen giữa ở Hoàng Tân, Quảng Ninh. Những phát hiện về Khảo cổ học năm 1986. Trang 40-”. 
  10. ^ “Đất mẹ Hoàng Tân”. 
  11. ^ “Khu đô thị phức hợp Hạ Long xanh”. 
  12. ^ “Người đàn bà cọp vồ”. 

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]