Inditex

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Industria de Diseño Textil, S.A.
Loại hình
Sociedad Anónima
Mã niêm yết Bản mẫu:BMAD
Mã ISIN ES0148396007
Ngành nghề Bán lẻ
Tiền thân
  • Confecciones GOA, S.A.
  • GOASAM, S.A.
Thành lập A Coruña, Tây Ban Nha
(12 tháng 6, 1985; 33 năm trước)
Người sáng lập Amancio Ortega
Rosalía Mera
Trụ sở chính Arteixo (A Coruña), Tây Ban Nha
Số lượng trụ sở
7292 cửa hàng[1]
Khu vực hoạt động Toàn cầu
Nhân viên chủ chốt
Pablo Isla (Chủ tịchCEO)
Sản phẩm Bán lẻ Quần áo & Thời trang
Doanh thu tăng23.311 tỉ (2016)[1]
tăng€4.021 tỉ (2016)[1]
tăng€3.161 tỉ (2016)[1]
Tổng tài sản tăng€19.621 tỉ (2016)[1]
Tổng vốn chủ sở hữu tăng€12.752 tỉ (2016)[1]
Chủ sở hữu Amancio Ortega (59%)
Số nhân viên
tăng162,450 (2016)[1]
Công ty con Zara, Pull & Bear, Bershka, Massimo Dutti, Stradivarius, Oysho, Zara Home, Uterqüe
Website www.inditex.com

Industria de Diseño Textil, S.A. (Inditex; /ˌɪndɪˈtɛks/, tiếng Tây Ban Nha: [indiˈteks]; Textile Design Industry) là công ty sản xuất quần áo đa quốc gia có trụ sở tại thành phố Arteixo, A Coruña trong vùng GaliciaTây Ban Nha.[2]

Inditex là tập đoàn thời trang lớn nhất thế giới với hệ thống 7,200 cửa hàng ở 93 quốc gia và vùng lãnh thổ.[3][4][5] Thương hiệu chính của tập đoàn là Zara, bên cạnh các nhãn hàng Zara Home, Massimo Dutti, Bershka, Oysho, Pull and Bear, Stradivarius, và Uterqüe. Hầu hết các cửa hàng của Inditex thuộc quyền sở hữu trực tiếp của tập đoàn. Ở vài quốc gia không cho phép sở hữu ngoại quốc thì các cửa hàng được mở theo hình thức nhượng quyền.[6]

Các công ty của Inditex có một chiến lược kinh doanh độc đáo: thay vì sản xuất một sản phẩm với số lượng lớn, mỗi mùa họ đưa ra rất nhiều mẫu mã đa dạng với số lượng hạn chế, sau đó điều chỉnh sản xuất dựa trên phản hồi của khách hàng. Nhờ vậy, các cửa hàng của Inditex có sản phẩm mới gần như hằng tuần. Họ không cần lo lắng nếu một sản phẩm không được yêu thích, trong khi các mặt hàng bán chạy dễ dàng được cập nhật thêm số lượng.[5] Các mẫu mã của Zara chỉ mất 15 ngày để đi từ khâu phác thảo, sản xuất rồi bày bán.[7] 60% khâu sản xuất được thực hiện ngay tại địa phương giúp tiết kiệm đáng kể thời gian.[8]

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Thành lập[sửa | sửa mã nguồn]

Amancio Ortega bước vào ngành công nghiệp may mặc vào những năm 1960 khi ông làm việc trong một xưởng may áo sơ miA Coruña, Tây Ban Nha.[9] Ông bắt đầu tự thiết kế các mẫu áo của riêng mình trong khi vợ ông, bà Rosalia Mera, may chúng ngay tại nhà họ.[6][10] Ít lâu sau, Ortega đã tiết kiệm đủ tiền để mở một nhà máy nhỏ để sản xuất và bán các sản phẩm của mình cho nhiều khách hàng khác nhau.

Năm 1975, vợ chồng Ortega mở cửa hàng bán lẻ đầu tiên, Zara, tập trung vào quần áo thời trang giá rẻ.[6][7] Năm sau, Zara được cổ phần hóa và mở thêm nhiều cửa hàng cũng như cơ sở sản xuất trên khắp Tây Ban Nha.[6] Ortega cũng bắt đầu nhận thấy tầm quan trọng của tin học, nên đã thuê một giáo sư tên José María Castellano để giúp nâng cao năng lực số hóa của công ty.[6][11]

1980–2000[sửa | sửa mã nguồn]

Vào thập niên 80, công ty bắt đầu áp dụng phương pháp mới giúp rút ngắn đáng kể thời gian thiết kế, sản xuất, và phân phối sản phẩm.[12] Hệ thống này được phát triển bởi Castellano, người đã vươn lên nắm quyền CEO công ty vào năm 1984. Năm 1985, Inditex được thành lập và sở hữu thương hiệu Zara.[13]. Từ năm 1988, công ty mở cửa hàng ngoại quốc đầu tiên của mình ở Bồ Đào Nha, rồi một năm sau là ở Hoa KỳPháp, đánh dấu kỷ nguyên vươn ra tầm quốc tế.[14] Năm 1991, Inditex sáng lập thương hiệu Pull and Bear, tập trung sản xuất thời trang nam giới.[15][16] Cùng năm, công ty cũng mua lại 65% cổ phần của chuỗi cửa hàng hạng sang dành cho nam Massimo Dutti. Năm 1993, nhãn hàng Lefties mở cửa, chủ yếu để bán các sản phẩm tồn kho của Zara với giá siêu rẻ.[17] Năm 1995, Inditex mua đứt Massimo Dutti và bắt đầu bán cả thời trang nữ với thương hiệu này.[18] Năm 1998, Inditex ra mắt thương hiệu Bershka dành cho giới thanh niên thành thị.[19] Thương hiệu Stradivarius ra mắt năm 1999 thì hướng đến các cô gái trẻ.[6]

2001–hiện nay[sửa | sửa mã nguồn]

Inditex có đợt phát hành cổ phiếu ra công chúng đầu tiên năm 2001 trên sàn giao dịch chứng khoán Madrid.[20] Đợt IPO này đã bán 26% cổ phần của công ty, giúp định giá Inditex ở mức 9 tỷ Euro.[21] Cùng năm, Inditex giới thiệu thương hiệu đồ lót nữ Oysho.[22][23]

Năm 2003, Inditex ra mắt nhãn hàng đồ nội thất Zara Home.[24] Năm 2004, bằng việc mở cửa hàng thứ 2,000 ở Hong Kong, Inditex đánh dấu sự hiện diện của mình ở 56 quốc gia.[25]

Năm 2005, để mở đường cho sự phát triển của tập đoàn, Jose Maria Castellano từ chức CEO và được thay thế bởi Pablo Isla.[26] Thương hiệu Uterque chuyên sản xuất phụ kiện cho phái nữ được ra mắt vào mùa hè năm 2008.[27] Cùng năm, Inditex mở cửa hàng thứ 4,000 ở Tokyo, tăng gấp đôi số cửa hàng của mình chỉ trong vòng bốn năm.[25] Năm 2011, nhà sáng lập và cổ đông lớn nhất của Inditex là ông Ortega từ chức chủ tịch tập đoàn, nhường toàn bộ quyền hành lại cho CEO Pablo Isla. Inditex cũng mở cửa hàng đầu tiên ở Úc, xác lập sự có mặt của mình ở cả 5 châu lục.

Sau sự kiện sập nhà máy Savar năm 2013, Inditex là một trong 38 công ty ký vào bản thỏa thuận về an toàn nhà xưởng ở Bangladesh.[28]

Chiến lược quảng bá[sửa | sửa mã nguồn]

Inditex không đổ nhiều tiền vào quảng cáo. Thay vào đó, công ty tập trung vốn vào việc mở nhiều cửa hàng ở các địa điểm quan trọng nhằm thu hút sự chú ý của khách hàng. Công ty cũng chi tiền cho các ngôi sao để họ mặc quần áo từ thương hiệu của hãng.

Thương hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Inditex sở hữu nhiều thương hiệu dành cho các đối tượng khách hàng khác nhau.[29]

Thương hiệu Số lượng cửa hàng[30] Năm thành lập [31] Đối tượng
Zara 2,232 1975 Thời trang nam nữ và trẻ em
Pull and Bear 982 1991 Thời trang thoải mái và năng động cho giới trẻ
Massimo Dutti 769 1991 (mua lại) Thời trang và phụ kiện hạng sang
Bershka 1,096 1998 Thời trang hiện đại cho giới trẻ thành thị
Stradivarius 1,015 1999 (mua lại) Quần áo, phụ kiện cho phái nữ
Oysho 646 2001 Nội y, đồ bơi, phụ kiện cho phái nữ
Zara Home 563 2003 Đồ nội thất và trang trí nhà cửa
Uterqüe 82 2008 Thời trang giá rẻ
Các thương hiệu của Inditex
Cửa hàng Zara ở Brussels (Bỉ) 
Cửa hàng Pull&Bear ở Thượng Hải (Trung Quốc) 
Cửa hàng Massimo Dutti ở Paris (Pháp) 
Cửa hàng Bershka ở Đài Loan 
Cửa hàng Stradivarius ở Hy Lạp 
Cửa hàng Oysho ở Stockholm (Thụy Điển) 
Cửa hàng Uterqüe ở Valladolid (Tây Ban Nha) 

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b c d đ “Financial Data” (pdf). Inditex. Truy cập ngày 27 tháng 2 năm 2018. 
  2. ^ Butler, Sarah (ngày 14 tháng 12 năm 2013). “Inditex: Spain's Fashion Powerhouse You've Probably Never Heard Of”. The Guardian. Truy cập ngày 20 tháng 4 năm 2016. 
  3. ^ “International presence - inditex.com”. www.inditex.com. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 9 năm 2016. Truy cập ngày 16 tháng 3 năm 2017.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  4. ^ “Zara Owner Inditex Sees Profits Jump as Sales Soar”. BBC. Ngày 9 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 16 tháng 3 năm 2016. 
  5. ^ a ă Abnett, Kate; Amed, Imran (ngày 30 tháng 3 năm 2015). “Inditex:Agile Fashion Force”. Business of Fashion. Truy cập ngày 20 tháng 4 năm 2016. 
  6. ^ a ă â b c d “Industria de Diseno Textil S.A. History”. Funding Universe. Truy cập ngày 8 tháng 4 năm 2016. 
  7. ^ a ă Frayer, Lauren (ngày 12 tháng 3 năm 2013). “The Reclusive Spanish Billionaire Behind Zara's Fast Fashion Empire”. NPR. Truy cập ngày 20 tháng 4 năm 2016. 
  8. ^ Fashion Business Education (ngày 4 tháng 1 năm 2017), The Zara Way: How Inditex beats the competition (Business model), truy cập ngày 28 tháng 6 năm 2017 
  9. ^ “Amancio Ortega Gaona is One of the 500 People Shaping the Global Fashion Industry in 2018”. The Business of Fashion (bằng tiếng en-GB). Truy cập ngày 17 tháng 8 năm 2018. 
  10. ^ Baigorri, Manuel (ngày 15 tháng 8 năm 2013). “Rosalia Mera, Who Was Spain's Richest Woman, Dies at 69”. Bloomberg Business. Truy cập ngày 20 tháng 4 năm 2016. 
  11. ^ Buck, Tobias (ngày 18 tháng 6 năm 2014). “Fashion:A Better Business Model”. Financial Times. Truy cập ngày 20 tháng 4 năm 2016. 
  12. ^ Ozkurt, Tolga (2010). The Last Retail Evolution. Editrice Le Fonti. tr. 47–49. ISBN 978-88-6109-075-0. 
  13. ^ Hansen, Suzy (ngày 9 tháng 11 năm 2012). “How Zara Grew Into the World's Largest Fashion Retailer”. New York Times Magazine. Truy cập ngày 8 tháng 4 năm 2016. 
  14. ^ Ryan, Orla (ngày 23 tháng 5 năm 2001). “Spain's Retail Success Story”. BBC News. Truy cập ngày 8 tháng 4 năm 2016. 
  15. ^ “Company History”. Pull and Bear. Truy cập ngày 8 tháng 4 năm 2016. 
  16. ^ “Pull and Bear First UK Store”. Fashion United. Truy cập ngày 8 tháng 4 năm 2016. 
  17. ^ Sowray, Bibby (ngày 19 tháng 3 năm 2014). “Lefties:The Zara Outlet You Never Knew About”. The Telegraph. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 6 năm 2015. Truy cập ngày 4 tháng 11 năm 2015. 
  18. ^ “Annual Report Massimo Dutti” (PDF). Inditex. 1998. Truy cập ngày 8 tháng 4 năm 2016. 
  19. ^ “Bershka About”. Inditex. Truy cập ngày 8 tháng 4 năm 2016. 
  20. ^ Vitzthum, Carlta; Ascarelli, Silvia (ngày 29 tháng 4 năm 2015). “Inditex Sets IPO Price Range Amid Strong Market Demand”. The Wall Street Journal. Truy cập ngày 8 tháng 4 năm 2016. 
  21. ^ Heller, Richard (ngày 28 tháng 5 năm 2001). “Inside Zara”. Forbes. Truy cập ngày 8 tháng 4 năm 2016. 
  22. ^ “About Oysho”. FashionBi. Truy cập ngày 8 tháng 4 năm 2016. 
  23. ^ Loeb, Walter (ngày 30 tháng 3 năm 2015). “Zara Leads in Fast Fashion”. Forbes. Truy cập ngày 8 tháng 4 năm 2016. 
  24. ^ Barker, Barbara (ngày 16 tháng 6 năm 2003). “Spanish Clothing Manufacturer Inditex Enters New Territory With Zara Home”. HFN the Weekly Newspaper (Home Furnishing Network). Truy cập ngày 8 tháng 4 năm 2016. 
  25. ^ a ă Gomez, Luis (ngày 14 tháng 8 năm 2012). “The Man Who Dresses the World”. El Pais. Truy cập ngày 8 tháng 4 năm 2016. 
  26. ^ Crawford, Leslie (ngày 26 tháng 9 năm 2005). “Castellano Steps Down From Inditex”. Financial Times. Truy cập ngày 8 tháng 4 năm 2016. 
  27. ^ Moreau, Raphael (ngày 22 tháng 9 năm 2008). “Retail in Practice:H&M and Inditex's Global Expansion Strategies”. The Retail Digest. 
  28. ^ Burke, Jason; Hammadi, Saad; Neville, Simon (ngày 13 tháng 5 năm 2013). “Fashion Chains Sign Accord to Help Finance Safety in Bangladesh Factories”. The Guardian. Truy cập ngày 8 tháng 4 năm 2016. 
  29. ^ “International presence - inditex.com”. www.inditex.com. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 9 năm 2016. Truy cập ngày 16 tháng 7 năm 2016.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  30. ^ “Presencia internacional”. inditex.com. 2016. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 4 năm 2016. Truy cập ngày 8 tháng 4 năm 2016.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  31. ^ “Our History - inditex.com”. www.inditex.com. Truy cập ngày 21 tháng 2 năm 2017. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Bản mẫu:Inditex Bản mẫu:Euro Stoxx 50 Công ty Bản mẫu:IBEX 35 Công ty