John J. Pershing

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
John J. Pershing
General John Joseph Pershing head on shoulders.jpg
Tiểu sử
Tên thật John Joseph Pershing
Biệt danh "Black Jack"
Sinh 13 tháng 9, 1860(1860-09-13)
Laclede, Missouri, Hoa Kỳ
Mất 15 tháng 7, 1948 (87 tuổi)
Bệnh viện Đa khoa Walter Reed
Washington, D.C., Hoa Kỳ.
Nơi chôn cất Nghĩa trang Quốc gia Arlington, quận Arlington, Virginia, Hoa Kỳ.
Binh nghiệp
Phục vụ Hiệp chúng quốc Hoa Kỳ
Thuộc Lục quân Hoa Kỳ
Năm tại ngũ 1886–1924
Cấp bậc General of Armies insignia.svg Đại tướng Lục quân
Chỉ huy Lữ đoàn 8[1][2]
Mexican Expedition
Lực lượng Viễn chinh Hoa Kỳ
Đệ nhất Lục quân Hoa Kỳ
Tham mưu trưởng Lục quân Hoa Kỳ
Tham chiến

Chiến tranh Da đỏ

Chiến tranh Tây Ban Nha-Mỹ

Chiến tranh Philippines – Mỹ

Chiến tranh Nga-Nhật
Cách mạng Mexico

Thế chiến I

Khen thưởng Distinguished Service Cross
Distinguished Service Medal
Ngôi sao Bạc
Đại thập tự Hiệp sĩ Danh dự của Order of the Bath (Anh quốc)
Légion d'honneur (France)
Chữ ký John J Pershing Signature.svg

Đại thống tướng John Joseph Pershing (13 tháng 9 năm 1860 - ngày 15 tháng 7 năm 1948) là một sĩ quan cao cấp của Lục quân Hoa Kỳ. Chức vụ nổi tiếng nhất của ông là khi ông làm chỉ huy lực lượng viễn chinh Mỹ (AEF) trên mặt trận phía Tây trong Thế chiến I, 1917-18. Tướng Pershing bác bỏ các yêu cầu của Anh và Pháp cho phép các lực lượng Hoa Kỳ được hòa nhập với quân đội của họ và nhấn mạnh rằng AEF sẽ hoạt động như một đơn vị duy nhất dưới sự chỉ huy của ông, mặc dù một số sư đoàn Mỹ đã chiến đấu dưới sự chỉ huy của Anh và ông cũng cho phép các đơn vị toàn màu đen tích hợp với lục quân Pháp.

Lực lượng Mỹ lần đầu tiên đã chứng kiến trận chiến khốc liệt tại Cantigny, Chateau-Thierry, Belleau Wood, và Soissons. Để đẩy nhanh sự xuất hiện của những lính bộ binh, họ tiến đến nước Pháp để lại thiết bị nặng đằng sau, sử dụng xe tăng của Anh và Pháp, pháo binh, máy bay và các loại đạn dược khác. Tháng 9 năm 1918 tại St. Mihiel, Quân đội Đầu tiên trực thuộc chỉ huy của Pershing; nó lấn át sự nổi bật - sự lấn chiếm vào lãnh thổ Đồng minh - rằng quân đội Đức đã nắm giữ trong ba năm. Đối với cuộc tấn công Meuse-Argonne, Pershing chuyển khoảng 600.000 binh lính Mỹ sang các khu rừng được bảo vệ nghiêm ngặt của Argonne, giữ các sư đoàn của mình tham chiến trong 47 ngày cùng với người Pháp. Cuộc tấn công gây tranh cãi trong hàng trăm năm liên minh, mà chiến dịch Argonne là một phần, đã góp phần vào việc Đức Quốc xã kêu gọi đình chiến. Pershing cho rằng chiến tranh nên tiếp tục và toàn bộ nước Đức phải bị chiếm đóng trong một nỗ lực nhằm phá hủy triệt để chính quyền quân sự Đức.

Pershing là người Mỹ duy nhất được thăng cấp trong cuộc đời của mình tới quân hàm Đại thống tướng, cấp cao nhất có thể trong Lục quân đội Hoa Kỳ.[Notes 1] Được phép chọn huy hiệu riêng, Pershing đã chọn bốn ngôi sao vàng để phân biệt mình từ những viên chức giữ chức Tướng, được biểu thị bằng bốn ngôi sao bạc.[3] Sau khi thiết lập tướng năm sao trong Thế chiến thứ II, quân hàm Đại thống tướng của ông có thể được coi không chính thức là là tướng sáu sao, nhưng ông đã chết trước khi huy hiệu đề xuất có thể được xem xét và hành động bởi Quốc hội Hoa Kỳ. Một số chiến thuật của ông đã bị chỉ trích bởi cả các chỉ huy khác vào thời đó và bởi các sử gia hiện đại. Sự phụ thuộc vào các vụ tấn công tiền tuyến tốn kém, rất lâu sau khi các đội quân Đồng Minh khác đã từ bỏ các chiến thuật như vậy, đã bị đổ lỗi cho việc gây ra thương vong ở Mỹ cao không cần thiết. [4] Ngoài việc dẫn đầu nhóm A.E.F. chiến thắng trong Chiến tranh thế giới lần thứ I, Pershing nổi tiếng đã phục vụ như một người cố vấn cho nhiều người trong thế hệ các tướng lĩnh lãnh đạo Quân đội Hoa Kỳ trong Thế chiến II, bao gồm George Marshall, Dwight D. Eisenhower, Omar Bradley, Lesley J. McNair, George S. Patton, và Douglas MacArthur.[5][6]

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Pershing sinh ra ở một trang trại gần Laclede, Missouri, để kinh doanh John Fletcher Pershing và người nội trợ Ann Elizabeth Thompson. Ông nội của Pershing, Frederick Pershing, tên ban đầu là Pfersching, di cư từ Alsace, rời Amsterdam trên con tàu Jacob, và đến Philadelphia vào ngày 2 tháng 10 năm 1749. Mẹ của Pershing là gốc Anh. Ông cũng có năm anh chị em: anh em James F. (1862-1933) và Ward (1874-1909), và chị Mary Elizabeth (1864-1928), Anna May (1867-1955) và Grace (1867-1903); ba đứa trẻ khác đã chết ở tuổi thơ ấu[7][8][9]Khi cuộc nội chiến bắt đầu, cha ông đã ủng hộ Liên minh và là một người lính gác cho Tiểu Đoàn Tình Nguyện Tình Nguyện Missouri lần thứ 18. Pershing đã theo học một trường học ở Laclede dành cho những học sinh có tài năng sớm, cũng là con của những công dân nổi tiếng. Tốt nghiệp trung học năm 1878, anh trở thành giáo viên của những đứa trẻ người Mỹ gốc Phi. Trong khi theo đuổi sự nghiệp giảng dạy của mình, Pershing cũng học tại Trường Trung học Quốc gia (nay là Truman State University) tại Kirksville, Missouri, từ đó ông tốt nghiệp năm 1880 với bằng cử nhân về khoa học về sư phạm.[10][11] Hai năm sau, ông nộp đơn lên Học viện Quân sự Hoa Kỳ. Pershing sau đó thừa nhận rằng phục vụ trong quân đội chỉ là ưu tiên thứ hai sau nhập học West Point, và ông đã áp dụng vì giáo dục cung cấp là tốt hơn so với có thể có được ở vùng nông thôn Missouri.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Wilson, John B. (1999) Maneuver and Fire Power: The Evolution of Divisions and Separate Brigades Lưu trữ January 13, 2018, tại Wayback Machine. Washington, D.C.: U.S. Government Printing Office. p. 57 ISBN 9780160899447
  2. ^ Vandiver, v.1 p. 576 Lưu trữ January 13, 2018, tại Wayback Machine.
  3. ^ “Lest We Forget: Over There; The Reduction of the Marne Salient”. The Evening Star (Franklin, IN). 18 tháng 4 năm 1925. tr. 7. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 1 năm 2017. (cần đăng ký mua (trợ giúp)). ...and the boys stood in formation from noon till evening before the arrival of the automobile bearing the impressive insignia of four gold stars.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  4. ^ Sheffield, G. (2001). Forgotten Victory: The First World War: Myths and Realities (2002 ed.). London: Headline Book Publishing. ISBN 0-7472-7157-7
  5. ^ Tucker, Spencer C. (2014). World War I: The Definitive Encyclopedia and Document Collection 1. Santa Barbara, CA: ABC-CLIO. tr. 1238. ISBN 978-1-85109-964-1. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 4 năm 2016.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  6. ^ Keane, Michael (2012). George S. Patton: Blood, Guts, and Prayer. Washington, DC: Regnery History. tr. 73. ISBN 978-1-59698-326-7. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 4 năm 2016.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  7. ^ Ruth and Rose, twins who died in 1872, and Frederick, who died in 1876. Vandiver, v. 1, p. 6
  8. ^ Associated Press (4 tháng 8 năm 1955). “Pershing's Sister Dies at 89”. The New York Times. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 2 năm 2015. Truy cập ngày 6 tháng 2 năm 2015. Anna May Pershing, a sister of the late General of the Armies John J. Pershing, died yesterday at the age of 89. ...  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  9. ^ Staff (10 tháng 2 năm 1933). “James F. Pershing Dies At Age Of 71”. The New York Times. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 2 năm 2015. Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2015. Brother of General Succumbs to Cerebral Thrombosis After a Long Illness. Was President of an Insurance Company. Formerly a Clothing Manufacturer. ...  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  10. ^ Russell, Thomas Herbert (1919). America's War for Humanity: Pictorial History of the World War for Liberty. New York, NY: L.H. Walter. tr. 497. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 1 năm 2018.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  11. ^ Muench, James; Miller, John E. (2006). Five Stars: Missouri’s Most Famous Generals. Columbia, MO: University of Missouri Press. tr. 82. ISBN 978-0-8262-1656-4. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 1 năm 2018.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  1. ^ An act was passed in 1976 retroactively promoting George Washington to the same rank but with higher seniority, ensuring that he would always be considered the senior ranking officer in the United States Army.