Omar Bradley

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Omar Nelson Bradley
General of the Army Omar Bradley.jpg
Omar N Bradley Signature.svg
Thống tướng Lục quân Omar Bradley năm 1950
Tiểu sử
Biệt danh "Tướng G.I."
Sinh


Clark, Missouri
Mất


New York, New York
Binh nghiệp
Phục vụ United States of America
Thuộc Lục quân Hoa Kỳ
Năm tại ngũ 1915–1953
Cấp bậc US-O11 insignia.svg Thống tướng Lục quân
Chỉ huy Sư đoàn Bộ binh 82
Sư đoàn Bộ binh 28
Quân đoàn 2
Tập đoàn quân thứ nhất
Cụm tập đoàn quân 12
Tham mưu trưởng Lục quân Hoa Kỳ
Tổng tham mưu trưởng Liên quân Hoa Kỳ
Tham chiến Xung đột Biên giới Mexico
Thế chiến thứ hai
Chiến tranh Triều Tiên
Khen thưởng Huy chương Phục vụ Xuất sắc Lục quân
Huy chương Phục vụ Xuất sắc Hải quân
Huân chương Ngôi sao Bạc
Legion of Merit
Huân chương Ngôi sao Đồng
Knight Commander of the British Empire
Order of Polonia Restituta
Huân chương Tự do Tổng thống
Huân chương Suvorov(Liên Xô)
Huân chương Kutuzov (Liên Xô)

Thống tướng Hoa Kỳ Omar Nelson Bradley (sinh ngày 12 tháng 2 năm 1893 - mất ngày 8 tháng 4 năm 1981) là một trong những vị tướng chỉ huy mặt trận Bắc Phimặt trận châu Âu trong Chiến tranh thế giới thứ hai . Ông là vị tướng năm sao cuối cùng và là chủ tịch Hội đồng tham mưu trưởng đầu tiên của quân đội Hoa Kỳ.

Thời thơ ấu và thanh niên[sửa | sửa mã nguồn]

Bradley sinh ra trong một gia đình nhà giáo nghèo ở gần Clark, Missouri. Thuở nhỏ, ông theo học tại trường Tiểu học Higbee và sau đó là trường Trung học Moberly, Missouri. Ban đầu, Bradley định theo học trường Đại học Missouri tại Columbia, Missouri; nhưng sau đó, theo lời khuyên của nhiều người, ông đã tham gia dự tuyển vào Học viện West Point và gia nhập trường vào năm 1911.

Trong thời gian học tại học viện, Bradley từng tham gia vào một đội bóng chày của trường, mà về sau các thành viên đội đều lên đến cấp tướng. Ông tốt nghiệp West Point vào năm 1915, ở một khóa tốt nghiệp với 59 vị tướng tương lai, trong đó có 2 người là Bradley và Dwight Eisenhower lên đến cấp bậc Thống tướng.

Bradley được ủy nhiệm vào bộ binh và phân vào Trung đoàn bộ binh thứ 14, nhưng giống như nhiều đồng đội của mình, ông không đến châu Âu; Thay vào đó, ông giữ một loạt các chức vụ trong nước. Ông phục vụ trong lực lượng Biên giới Mỹ-Mexico năm 1915. Khi chiến tranh bùng nổ, ông được thăng chức lên đại úy, nhưng lại đóng ở Butte, Montana. Ông lấy Mary Elizabeth Quayle ngày 28 tháng 12, 1916. Bradley gia nhập sư đoàn bộ binh 19 vào tháng 8 1918, cũng là lúc bắt đầu đổ bổ lên châu Âu. Tuy nhiên do bị cúm Tây Ban Nha, ông đã không đi được.

Giữa 2 cuộc chiến tranh, ông đi dạy và đi học. Từ năm 1920-24, ông dạy toán ở West Point. Ông được thăng cấp lên hàm thiếu tá vào năm 1924 và dự một khóa bộ binh nâng cao tại Fort Benning, Georgia. Sau 1 khoảng thời gian phục vụ ngắn ở Hawaii, ông học ở Command and General Staff School tại Fort Leavenworth từ 1928-1929. Từ năm 1929, ông lại dạy ở West Point, sau đó nghỉ ngơi để học ở Army War College năm 1934. Ông được thăng cấp lên hàm trung tá năm 1936 và làm việc tại War Department dưới sự chỉ huy trực tiếp của tướng George Marshall từ năm 1938. Tháng 2 năm 1941, ông được thăng lên thiếu tướng và được làm chỉ huy Fort Benning (ông là người đầu tiên trong lớp đại học trở thành tướng). Tháng 2 năm 1942, ông chỉ huy sư đoàn bộ bình 82 trước khi được chuyển qua sư đoàn bộ binh thứ 28 vào tháng 6.

Đệ nhị thế chiến[sửa | sửa mã nguồn]

Bradley không trực tiếp chỉ huy chiến tuyến cho đến năm 1943, sau chiến dịch Torch. Ông được giao chỉ huy quân đoàn VIII và được gửi đến Bắc Phi để hỗ trợ cho tướng Eisenhower. Theo như gợi ý của Bradley, quân đoàn II , quân đoàn vừa chịu thiệt hại nặng tại Kasserine Pass, được thay đổi từ trên xuống dưới và đặt dưới sự chỉ huy của tướng George S. Patton. Patton đề nghị Bradley làm phó của mình, nhưng Bradley vẫn duy trì quyền đại diện cho Eisenhower.

Bradley thế chỗ Patton làm chỉ huy quân đoàn II vào tháng 4 và dẫn quân của mình trong các trận chiến cuối cùng ở Tunisia vào tháng 4 và tháng 5. Sau đó, ông kéo quân đoàn của mình, khi đó là quân đoàn duy nhất trong tập đoàn quân của tướng Patton, đến Sicilia vào tháng 7.

Vào thời điểm sắp tới Trận Normandie, Bradley được chọn chỉ huy tập đoàn quân thứ nhất Mỹ hùng hậu, cùng với tập đoàn quân thứ hai Anh cùng nhau thành lập tập đoàn quân thứ 21 của tướng Montgomery. Bradley lên kế hoạch chi tiết cho cuộc đổ bộ lên bãi Omaha tại trụ sở ở Clifton College, Bristol, Anh. Ông đến Normandie từ Portsmouth trên tàu tuần dương hạng nặng. Trong quá trình dội bom hôm D-Day, Bradley làm việc trong cabin chỉ huy làm bằng thép được xây riêng cho ông trên chiến hạm, 20 ft (6,1 m) by 10 ft (3,0 m). Bức tường bị che phủ bởi bản đồ Pháp và một vài bản đồ bãi khu vực Normandie. Một loạt các nhân viên ngồi cạnh máy đánh máy dọc theo bức tường, trong khi Bradley và các cộng sự bu xung quanh ở giữa lên kế hoạch. Tuy nhiên, suốt cả buổi sáng hôm đó, Bradley đứng trên buồng chỉ huy đứng bên cạnh đô đốc Alan G. Kirk, quan sát cuộc đổ bộ qua ống nhòm, tai bịt bông để hạn chế âm thanh của súng chiến hạm.

Ngày 10 tháng 6, tướng Bradley và các cộng sự lên bờ để lập trụ sở. Suốt chiến dịch Overlord, ông chỉ huy 3 quân đoàn tấn công 2 mục tiêu, biển Utahbiển Omaha. Sau đó vào tháng 7, ông lên kế hoạch cho chiến dịch Cobra, chiến dịch bắt đầu tiến xa ra bãi Normandie. Trong lúc quân Mỹ tiến vào sâu trong đất liền, tập đoàn quân thứ 3 được thành lập dưới sự chỉ huy của Patton, cấp trên cũ của Bradley, trong khi tướng Hodges thay Bradley chỉ huy tập đoàn quân thứ nhất; Cả hai gộp lại thành tập đoàn quân số 12 của Bradley. Tháng 8, tập đoàn quân số 12 gồm 900,000 quân và bao gồm 4 tập đoàn quân gộp lại. Đó là tập đoàn quân lớn nhất từ trước đến nay dưới sự chỉ huy của một vị tướng.

Khác với một số vị tướng đầy cá tính suốt chiến tranh thế giới thứ hai, Bradley được mô tả là một người lịch thiệp và trang trọng. Ông được công chúng biết đến nhờ phóng viên Ernie Pyle, và được biết đến như là "vị tướng của người lính" (the soldier's general). Will Lang Jr. của tạp chí Life nói "Điều tôi ngưỡng mộ nhất về Omar Bradley là tính hòa nhã của ông ấy. Ông ấy không bao giờ ra lệnh cho bất kỳ ai thuộc bất kỳ chức vụ nào mà không nói "vui lòng" trước." ("The thing I most admire about Omar Bradley is his gentleness. He was never known to issue an order to anybody of any rank without saying 'Please' first.").

Bradley nổi tiếng ngày nay về tính kiên nhẫn của ông đối với cấp dưới so với đồng nghiệp của mình, George S. Patton, nhưng sự thật thì phức tạp hơn thế. Bradley đã từng sa thải hơn một tá các vị tướng suốt cuộc chiến thế giới thứ 2, trong khi Patton chỉ đuổi một vị tướng trong suốt cuộc chiến, Orlando Ward, sau nhiều lần cảnh báo.

Sau khi quân Đức cố gắng tách quân Mỹ tại Mortain (Chiến dịch Lüttich), tập đoàn quân của Bradley bao vây tập đoàn quân số 7 Đức và tập đoàn quân Panzer số 5 (Falaise pocket) tại Normandie. Mặc dù chỉ thành công một phần, cuộc bao vây đã gây thiệt hại nặng nề lên quân Đức khi họ rút lui.

Quân Mỹ dần tiến tới 'Siegfried Line' hay 'Westwall' vào cuối tháng 9. Sự thành công của cuộc tiến công đã làm ban chỉ huy Đồng minh bất ngờ. Họ liệu trước bộ binh Đức (Wehrmacht) sẽ lập hệ thống phòng thủ bên các dòng sông Pháp, và cuối cùng, hậu cần trở thành một vấn đề nghiêm trọng.

Lúc bấy giờ, bộ chỉ huy Đồng Minh cấp cao dưới tướng Eisenhower đối mặt với một quyết định về chiến thuật. Bradley thì muốn tiến thẳng vào Saarland, hoặc là một cuộc công kích 2 mũi vào Saarland và vùng Ruhr. Vừa được đề bạt chức thống chế, Bernard Montgomery thì muốn một mũi tiến công hẹp dọc sông Lower Rhine, với tất cả các đơn vị bộ binh Đồng minh dưới sự chỉ huy của ông giống như những ngày đầu của chiến dịch Normandy, vào vùng nông thôn rộng mở rồi tiến lên sườn Bắc vào Ruhr, giúp tránh vùng Siegfried Line. Mặc dù Montgomery không được phép mở cuộc tấn công trên quy mô mà ông muốn, George Marshall và Hap Arnold rất háo hức triển khai quân dù First Allied Airborne Army vượt sông Rhine, nên Eisenhower đồng ý cho chiến dịch Market Garden. Cuộc tranh luận đã dẫn đến sự bất hòa nghiêm trọng giữa các tướng lĩnh Đồng minh. Bradley phản đối việc Eisenhower cung cấp quân nhu cho Montgomery, nhưng Eisenhower, lưu tâm đến dư luận Anh, đã không để ý ý kiến của Bradley.

Quân của Bradley bấy giờ chiếm được một vùng lớn đồi núi nông thôn từ Netherlands đến Lorraine và, mặc dù là tập đoàn quân lớn nhất Đồng minh, đã gặp một số khó khăn trong việc thực hiện các cuộc tiến công ở nông thôn chống lại một lực lượng mạnh đang hồi phục. Tập đoàn quân thứ nhất của Courtney Hodges gặp kháng cự mạnh mẽ ở đèo Aachen, và Trận Hurtgen Forest đã dẫn đến 24,000 thương vong. Ở phía nam, tập đoàn quân thứ 3 của Patton mất đà, quân Đức vây chặt lực lượng phòng thủ quanh Metz. Trong khi Bradley tập trung cho hai chiến dịch này, quân Đức đã tập hợp được lính và quân nhu cho một cuộc tiến công bất ngờ.

Quân của Bradley đã vấp phải sự kháng cự mạnh mẽ ở Trận Bulge. Vì lí do hậu cần, tập đoàn quân thứ nhất lại được đặt dưới sự chỉ huy tạm thời của tập đoàn quân thứ 21 của thống chế Montgomery. Trong một nước cờ chưa bao giờ có trong chiến tranh hiện đại, tập đoàn quân thứ ba của Patton rút khỏi Saarland, di chuyển 90 mi (140 km) đến mặt trận, tấn công sườn nam của quân Đức để phá bỏ vòng bao vây quanh Bastogne (mặc dù thời tiết quang đãng cho phép không quân giải vây Bastogne và bẻ gãy cuộc tấn công của quân Đức). Trong hồi kí năm 2003 về Eisenhower, Carlo d'Este ngụ ý rằng việc thăng chức Bradley lên làm tướng là để đền bù cho việc ông bị cho ra rìa suốt trận Bulge.

Bradley đã sử dụng lợi thế có được vào tháng 3 năm 1945 - sau khi Eisenhower cho phép thi hành chiến dịch Veritablechiến dịch Grenade vào tháng 2 năm 1945 - để bẻ gãy hàng phỏng thủ của Đức, vượt qua sông Rhine vào khu trung tâm công nghiệp quan trong ở Ruhr. Cuộc truy đuổi gay gắt tàn quân Đức đã dẫn đến kết quả chiếm được một cây cầu bắt qua sông Rhine ở Ramagen. Bradley và cấp dưới nhanh chóng khai thác lợi thế đó, hình thành một thế kẹp khổng lồ bao vây quân Đức từ Bắc và Nam. Hơn 300,000 tù nhân bị bắt. Sau đó, quân Mỹ gặp quân Liên Xô gần sông Elbe vào giữa tháng 4. Vào ngày V-E, tập đoàn quân số 12 là một lực lượng bao gồm 4 tập đoàn quân (thứ 1, thứ 3 ,thứ 9 và thứ 15), tập hợp khoảng 1.3 triệu quân.

Hậu chiến[sửa | sửa mã nguồn]

General Omar Bradley, 1949 official photo

Bradley đứng đầu cục cựu chiến binh Mỹ hai được hai năm sau chiến tranh. Ông nổi tiếng vì đã cải thiện hệ thống y tế và giúp đỡ các cựu binh hưởng các hỗ trợ về giáo dục.

Bradley được đề bạt làm tham mưu lục quân năm 1948. Vào ngày 11 tháng 8 năm 1949, tổng thống Harry S Truman bổ nhiệm ông làm chủ tịch hội đồng tham mưu trưởng đầu tiên. Vào ngày 22 tháng 9 năm 1950[1] ông được đề bạt lên chức thống tướng lục quân, ngưới thứ 5 và cũng là người cuối cùng giữ chức vụ này trong thế kỉ 20.

Summary of service[sửa | sửa mã nguồn]

Thăng cấp[sửa | sửa mã nguồn]

Chưa có cấp hiệu vào năm 1915 Thiếu úy Lục quân Hoa Kỳ, 12 tháng 6, 1915
US-O2 insignia.svg Trung úy Lục quân Hoa Kỳ, 13 tháng 10, 1916
US-O3 insignia.svg Đại úy Lục quân Hoa Kỳ, 22 tháng 8, 1917
US-O4 insignia.svg Thiếu tá Vệ binh Quốc gia Hoa Kỳ, 17 tháng 7, 1918
US-O3 insignia.svg Đại úy Quân chuyên nghiệp Hoa Kỳ (trở về cấp bậc thời bình), 4 tháng 11, 1922
US-O4 insignia.svg Thiếu tá Quân chuyên nghiệp Hoa Kỳ, 27 tháng 5, 1924
US-O5 insignia.svg Trung tá Quân chuyên nghiệp Hoa Kỳ, 22 tháng 7, 1936
US-O7 insignia.svg Chuẩn tướng Liên quân Hoa Kỳ, 24 tháng 2, 1941
US-O8 insignia.svg Thiếu tướng Liên quân Hoa Kỳ, 18 tháng 2, 1942
US-O9 insignia.svg Trung tướng Liên quân Hoa Kỳ, 9 tháng 6, 1943
US-O6 insignia.svg Đại tá Quân chuyên nghiệp Hoa Kỳ, 13 tháng 11, 1943
US-O10 insignia.svg Đại tướng Liên quân Hoa Kỳ, 29 tháng 3, 1945
Cấp bậc Đại tướng thực thụ Quân chuyên nghiệp Hoa Kỳ, 31 tháng 1, 1949
US-O11 insignia.svg Thống tướng Quân chuyên nghiệp Hoa Kỳ, 22 tháng 9, 1950

Primary decorations[sửa | sửa mã nguồn]

Bản mẫu:Ribbon devices Army Distinguished Service Medal (With three oak leaf clusters)
Navy Distinguished Service ribbon.svg Navy Distinguished Service Medal
Silver Star ribbon.svg Silver Star
Bản mẫu:Ribbon devices Legion of Merit (w/oak leaf cluster)
Bronze Star ribbon.svg Bronze Star
Mexican Border Service Medal ribbon.svg Mexican Border Service Medal
World War I Victory Medal ribbon.svg World War I Victory Medal
American Defense Service ribbon.svg American Defense Service Medal
European-African-Middle Eastern Campaign ribbon.svg European-African-Middle Eastern Campaign Medal with one silver and three campaign stars
World War II Victory Medal ribbon.svg World War II Victory Medal
Army of Occupation ribbon.svg Army of Occupation Medal with Germany clasp
National Defense Service Medal ribbon.svg National Defense Service Medal with star
Order of the Bath UK ribbon.png British Order of the Bath Knight Commander
Polonia Restituta Komandorski.jpg Order of Polonia Restituta
CdG45.gif French Croix de guerre with palm
Order kutuzov1 rib.png Order of Kutuzov (1st class)
Order suvorov1 rib.png Order of Suvorov (1st class)
Luxembourg War Cross

Assignment history[sửa | sửa mã nguồn]

Omar Bradley
  • 1911: Cadet, United States Military Academy
  • 1915: 14th Infantry Regiment
  • 1919: ROTC professor, South Dakota State College
  • 1920: Instructor, United States Military Academy (West Point)
  • 1924: Infantry School Student, Fort Benning, Georgia
  • 1925: Commanding Officer, 19th and 27th Infantry Regiments
  • 1927: Office of National Guard and Reserve Affairs, Hawaiian Department
  • 1928: Student, Command and General Staff School
  • 1929: Instructor, Fort Benning, Infantry School
  • 1934: Plans and Training Office, USMA West Point
  • 1938: War Department General Staff, G-1 Chief of Operations Branch and Assistant Secretary of the General Staff
  • 1941: Commandant, Infantry School Fort Benning
  • 1942: Commanding General, 82nd Infantry Division and 28th Infantry Division
  • 1943: Commanding General, II Corps, North Africa and Sicilia
  • 1943: Commanding General, Field Forces European Theater
  • 1944: Commanding General, First Army (Later 1st and 12th U.S. Army Groups)
  • 1945: Administrator of Veterans Affairs, Veterans Administration
  • 1948: United States Army Chief of Staff
  • 1949: Chairman of the Joint Chiefs of Staff
  • 1953: Retired from active service

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “GENERAL OF THE ARMIES OF THE UNITED STATES AND GENERAL OF THE ARMY OF THE UNITED STATES”. Truy cập ngày 28 tháng 9 năm 2009. “General of the Army Omar N. Bradley, appointed Sep 22, 50. Deceased Apr 81. (General Bradley appointed pursuant to PL 957, on 18 tháng 9 năm 1950.)” 

Thư mục[sửa | sửa mã nguồn]

Russell F. Weigley Eisenhower's Lieutenants: The Campaign of France and Germany 1944-1945 Bloomington, IN: Đại học Indiana Press, 1981. ISBN 0-253-20608-1

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]