Jon Jones

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Jon Jones
Jon Jones - Supporting Brain Health Study.jpg
Jones in 2014
SinhJonathan Dwight Jones[1][2]
19 tháng 7, 1987 (31 tuổi)[3]
Rochester, New York, U.S.[4]
Tên khácBones[5]
Sexual Chocolate (former)[6]
Nơi cư trúIthaca, New York, U.S.[7]
Quốc tịchAmerican[4]
Cao6 ft 4 in (193 cm)[5][8]
Nặng205 lb (93 kg; 14,6 st)[9]
Hạng cânLight heavyweight[5]
Sải tay84 12 in (215 cm)[10]
Đến từAlbuquerque, New Mexico, U.S.[4]
ĐộiJackson Wink MMA Academy[3]
Hạng     Black belt in Gaidojutsu under Greg Jackson[11]
     Blue belt in Brazilian Jiu-Jitsu under Roberto Alencar[12]
Năm hoạt động2008–present
Sự nghiệp Mixed Martial Arts
Tổng24
Thắng22
Knockout9
Submission6
Phán quyết của trọng tài7
Thua1
Bị truất quyền1
No contest1
Thông tin khác
Đại họcIowa Central Community College[13]
Người thân nổi bậtArthur Jones (brother)[14]
Chandler Jones (brother)[14]
TrườngUnion-Endicott High School[15]
Websitewww.jonnybones.com
Thành tích MMA trên Sherdog

Jonathan Dwight Jones[1][2] (sinh ngày 19 tháng 7 năm 1987)[3] là một võ sĩ MMA chuyên nghiệp người Mỹ hiện đang ký hợp đồng với giải vô địch chiến đấu tối thượng. Anh là một nhà vô địch hạng nặng UFC Light hai lần và là nhà vô địch trẻ nhất trong lịch sử UFC. Jones được coi là một trong những chiến binh chuyên nghiệp vĩ đại nhất mọi thời đại.Anh là em trai của cựu cầu thủ bóng đá quốc gia (NFL), người chơi Arthur Jones và anh trai của cầu thủ NFL hiện tại là Chandler Jones.[16][17][18]

Jones giành giải UFC hạng nặng hạng nặng đầu tiên vào tháng 3 năm 2011 ở tuổi 23, trở thành nhà vô địch trẻ nhất kể từ khi UFC tách các hạng cân.[19] Anh nắm giữ nhiều kỷ lục UFC trong hạng nặng hạng nhẹ, bao gồm cả hàng phòng ngự danh hiệu thành công và liên tiếp, chiến thắng nhiều nhất, chuỗi chiến thắng dài nhất và những chiến thắng xuất sắc nhất. Jones được nhiều người coi là chiến binh pound-pound tốt nhất trên thế giới trong suốt thời gian anh nắm giữ chức vô địch.[20][21][22][23][24]

Jones chưa bao giờ bị đánh bại cho một chức vô địch trong cuộc thi MMA và nhiều người coi sự mất mát chuyên nghiệp duy nhất của mình, một sự truất quyền thi đấu với Matt Hamill, một quyết định trọng tài tồi tệ. Jones lần đầu tiên đánh mất vị thế của mình với tư cách là nhà vô địch UFC vào năm 2015 khi UFC tước đoạt danh hiệu của mình và đình chỉ anh ta sau khi anh ta bị bắt vì tội tấn công trọng tội. Anh trở lại UFC năm 2016 để giành Interim UFC Light Heavyweight Championship trước Ovince Saint Preux nhưng bị tước chức vô địch sau khi thất bại trong một cuộc kiểm tra ma túy chống Mỹ (USADA) chỉ vài ngày trước khi UFC 200 lên kế hoạch chống lại Daniel Cormier. Ông đã bị đình chỉ trong một năm sau khi USADA cai trị các xét nghiệm dương tính đến từ thuốc tăng cường nam nhưng vẫn còn lỗi Jones cho sơ suất. Jones trở lại vào ngày 29 tháng 7 năm 2017, tại UFC 214, và đánh bại Cormier thông qua vòng ba KO để giành chiến thắng UFC Light Heavyweight Championship thứ hai của mình. Tuy nhiên, sau đó nó được tiết lộ rằng Jones đã thất bại trong một cuộc thử nghiệm thuốc USADA khác, và Jones đã bị tước chức vô địch thứ ba của mình và chiến thắng của anh trước Cormier đã bị đảo ngược thành 'không thi đấu'[25][26]. Bởi vì đây là lần vi phạm thứ hai, Jones phải đối mặt với lệnh cấm bốn năm nhưng chỉ bị đình chỉ trong mười lăm tháng sau khi USADA cho rằng không có đủ bằng chứng cho thấy Jones cố ý sử dụng các chất cấm.[27]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă “2011 Mixed Martial Arts results” (PDF). Nevada Athletic Commission. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 20 tháng 3 năm 2012. Truy cập ngày 7 tháng 4 năm 2011. 
  2. ^ a ă Cofield, Steve. “Jones interview: ‘Guys Choice’ awards show appearance on tap as the champ deals with highs and lows of stardom”. Yahoo! Sports. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 5 năm 2011. Truy cập ngày 18 tháng 5 năm 2011. 
  3. ^ a ă â “Jon "Bones" Jones stats”. Sherdog. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 4 năm 2011. Truy cập ngày 7 tháng 4 năm 2011. 
  4. ^ a ă â “Jonny "Bones" Jones Bio”. JonnyBones.tv. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 8 năm 2010. Truy cập ngày 8 tháng 4 năm 2011. 
  5. ^ a ă â “Jon Jones stats”. FightMagazine.com. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 8 năm 2011. Truy cập ngày 7 tháng 4 năm 2011. 
  6. ^ Al-Shatti, Shaun (20 tháng 4 năm 2012). “Morning Report: From Amateur to UFC in Three Months - A Jon Jones Video Timeline”. MMAFighting. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 2 năm 2015. Truy cập ngày 28 tháng 1 năm 2015. 
  7. ^ Guregian, Karen (6 tháng 5 năm 2012). “Keeping up with the Joneses: Spending the afternoon with UFC champ Jon Jones…at Saks Fifth Avenue”. Boston Herald. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 5 năm 2012. Truy cập ngày 6 tháng 5 năm 2012. 
  8. ^ “Jon "Bones" Jones - Official UFC Fighter Profile”. UFC.com. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 2 năm 2012. Truy cập ngày 26 tháng 1 năm 2012. 
  9. ^ Gerbasi, Thomas (21 tháng 9 năm 2012). “Official UFC 152 Weigh In Results | UFC &reg - News”. UFC. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 2 năm 2013. Truy cập ngày 6 tháng 5 năm 2013. 
  10. ^ http://m.espn.com/extra/mma/playercard?playerId=2335639&src=desktop
  11. ^ “Fighter Scouting Report: Jon Jones”. MMA Manifesto. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 7 năm 2015. Truy cập ngày 12 tháng 7 năm 2015. 
  12. ^ @jonnybones (23 tháng 7 năm 2017). "It was an honor to receive a blue belt (...)". Instagram. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 23 tháng 7 năm 2017. 
  13. ^ Keefer, Case (15 tháng 3 năm 2011). “College career helped Jon Jones reach UFC pinnacle”. Las Vegas Sun. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 3 năm 2011. Truy cập ngày 8 tháng 4 năm 2011. 
  14. ^ a ă Cobert, Gregg (20 tháng 3 năm 2011). “Ravens DT Arthur Jones’ Brother "Ali-esque". BaltimoreSportsReport.com. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 4 năm 2011. Truy cập ngày 8 tháng 4 năm 2011. 
  15. ^ Stevens, Kevin. “UFC title 'means everything' to Endicott's Jon 'Bones' Jones”. Star-Gazette. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 3 năm 2011. Truy cập ngày 8 tháng 4 năm 2011. 
  16. ^ Tabuena, Anton (4 tháng 1 năm 2015). “Is Jon Jones the Greatest of All Time? The UFC champ says he has 'toughest resume' in MMA history”. Bloody Elbow. SB Nation. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 4 năm 2015. Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2015. 
  17. ^ Snowden, Jonathan (2 tháng 1 năm 2015). “Sorry Haters: UFC Champion Jon Jones Is the Greatest Fighter of All Time”. Bleacher Report. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 5 năm 2015. Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2015. 
  18. ^ “Most consecutive wins in UFC bouts”. Fight Matrix. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 1 năm 2017. Truy cập ngày 19 tháng 1 năm 2017. 
  19. ^ Iole, Kevin (20 tháng 3 năm 2011). “Jones steamrolls Rua, becomes youngest UFC champ”. Sports.Yahoo.com. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 5 năm 2012. Truy cập ngày 20 tháng 3 năm 2011. 
  20. ^ “Light Heavyweight MMA Top 10”. MMAWeekly.com. 19 tháng 8 năm 2012. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 8 năm 2012. Truy cập ngày 11 tháng 9 năm 2012. 
  21. ^ “MMA Power Rankings – Light Heavyweight”. ESPN.com. 6 tháng 8 năm 2012. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 9 năm 2012. Truy cập ngày 11 tháng 9 năm 2012. 
  22. ^ “Latest UFC rankings/MMA rankings (pound-for-pound): Jon Jones boots Anderson Silva from top spot”. MMAmania.com. 14 tháng 7 năm 2013. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 11 năm 2013. Truy cập ngày 7 tháng 12 năm 2013. 
  23. ^ “Sherdog.com’s Pound-for-Pound Top 10”. Sherdog. 7 tháng 9 năm 2013. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 9 năm 2013. Truy cập ngày 19 tháng 9 năm 2013. 
  24. ^ “Power Rankings: Pound-for-pound”. ESPN. 5 tháng 9 năm 2013. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 9 năm 2013. Truy cập ngày 20 tháng 9 năm 2013. 
  25. ^ Marc Raimondi (22 tháng 8 năm 2017). “Jon Jones failed drug test at UFC 214”. mmafighting.com. Truy cập ngày 22 tháng 8 năm 2017. 
  26. ^ “Daniel Cormier reinstated as UFC light heavyweight champion”. MMA Fighting. Truy cập ngày 14 tháng 9 năm 2017. 
  27. ^ https://www.mmafighting.com/2018/9/19/17880798/jon-jones-given-15-month-suspension-after-arbitration-in-usada-case